Thư Ngỏ Đầu Năm
Thư ngỏ đầu năm của Câu Lạc Bộ Dân chủ Việt Nam
Dòng thời gian cứ mải miết trôi. Thấm thoắt đã bước sang năm 2005. Năm cũ đã từ biệt chúng ta, mang theo bao niềm vui, nỗi buồn. Tưởng như tất cả sẽ tan biến vào hư vô, nhưng không phải. Có những điều vẫn còn đọng lại, mãi cứa vào thẳm sâu lòng người nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi…
Đầu năm, ngồi nhẩm nghiệm lại những gì đã làm được trong năm cũ, và hình dung về tương lai. Bao câu hỏi chập chờn trong suy tưởng. Nước Việt Nam của chúng ta bao giờ mới thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu? Nhân dân bao giờ mới thoát khỏi cảnh khổ sở, lầm than ? Đảng cộng sản sẽ đưa con thuyền đất nước lênh đênh đến bến bờ nào ?…
Càng đau lòng khi nhân dân mãi phải sống một cuộc đời cam lòng chịu đựng, dưới một chế độ độc tài thối nát, tham nhũng, quan liêu , hống hách, dốt nát,… Càng khát khao một ngày mai được nhìn thấy ánh sáng rạng ngời của nền Dân chủ-Tự do.
Chúng ta không thể không xót xa khi nghĩ về những con người dấn thân vì lẽ phải đang mòn mỏi trong ngục tù của chế độ hà khắc này. Nghĩ về họ, ta như được bồi đắp thêm sức mạnh và thầm nhắc nhở lòng mình phải tiếp tục nỗ lực thực hiện khát vọng dân chủ còn dang dở…
Nhân dịp đầu năm, chúng tôi xin được gửi lời cảm tạ đến tất cả quý vị, những người đã đón nhận sự hiện diện của chúng tôi trong thời gian qua. Kính chúc quý vị một năm mới “An-Khang-Thịnh-Vượng”. Chúc những người tranh đấu cho dân chủ luôn giữ trong mình một trái tim nhiệt thành và một ý chí bất khuất, vững vàng bước trọn trên con đường đầy gian nan nhưng cũng rất thiêng liêng này.
Cầu chúc cho nền dân chủ sớm đến với nhân dân Việt Nam.
Hà Nội ngày 1 tháng 1 năm 2005.
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Hải Quân Trung Quốc Bắn Giết Ngư Dân Việt Nam

.
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt NamTuyên BốVề việc tàu Hải quân Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam.
Ngày 8 tháng 1 năm 2005 vừa qua, trên vùng biển chung, tàu Hải quân Trung Quốc đã bao vây, bắn giết dã man những người dân Việt Nam hiền lành vô tội, làm 9 người bị thiệt mạng, 7 người bị thương và 8 người đang bị bắt giữ.
• Xét rằng, đây là một hành động độc ác, dã man, có chủ ý của Hải quân Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, vi phạm tuyên bố chung giữa hai quốc gia Việt Nam - Trung Quốc, gây ra nỗi đau cho những người dân vô tội và xúc phạm nghiêm trọng danh dự nhân dân Việt Nam.
• Xét rằng, Chính quyền Việt Nam chỉ lên tiếng một cách miễn cưỡng, chưa có những hành động ngoại giao đáp trả tương xứng với những vi phạm của Trung Quốc. Đó là thái độ nhu nhược, vô trách nhiệm, vô lương tâm.
• Xét rằng, sự bạc nhược của chính quyền Việt Nam trước Trung Quốc đã khiến đất nước của chúng ta phải mất hàng trăm km2 diện tích lãnh thổ, hơn 10 nghìn km2 diện tích lãnh hải bằng các hiệp định được ký kết năm 1999 và 2000. Sự bạc nhược này là cơ sở để Trung Quốc thực hiện lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải của nước ta trong nhiều năm qua.
Trên cơ sở những nhận định trên, chúng tôi tuyên bố:
Đòi hỏi nhà cầm quyền Trung Quốc phải khẩn trương trao trả phía Việt Nam 8 người đang bị bắt giữ trái phép, cùng các thi thể nạn nhân. Đồng thời phía Trung Quốc phải bồi thường vật chất, tinh thần cho những gia đình nạn nhân, phải xin lỗi toàn thể nhân dân Việt Nam về hành động dã man sai trái vừa qua.
Đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải có thái độ cứng rắn đối với sự việc nghiêm trọng này, phải bênh vực công dân của đất nước mình. Chấm dứt ngay tình trạng khiếp nhược bỏ mặc nhân dân cho ngoại bang dày xéo, giết hại.
Đòi hỏi Bộ chính trị, ban Văn hoá tư tưởng Trung ương, Bộ công an phải để cho báo chí trong nước tự do bày tỏ sự bức xúc, phẫn nộ của người dân đối với sự kiện này. Không được ngăn chặn những cuộc biểu tình ôn hoà phản đối Trung Quốc như thời gian vừa qua.
Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người hãy hành động theo tiếng gọi của lương tri. Không thể thờ ơ nhắm mắt trước nỗi đau của nhân dân mình.
Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 2005
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam. caulacbodanchuvietnam@yahoo.com Declaration of The Democracy Club for Viet NamVietnamese fishermen shot dead by Chinese Navy
Last 8th, Jan, 2005, in the common fishing area between Vietnam and China, the Chinese Navy cruelly opened fire at Vietnamese fishermen, killing nine innocent people, wounding seven and illegal detaining eight others.
Due to:
• This brutal action not only violated international sea water law and the agreement between the two countries but also caused great grief and anger among the Vietnamese people.
• Reluctant diplomatic reaction on the part of the Vietnamese government on this issue shows its irresponsibility and lack of courage for any action against the Chinese government.
• The fearful and cowardly attitude toward the Chinese government that resulted in the loss of thousands of square kilometers of land and sea in a border agreement signed with China in 1999 and 2000.
We declare
The Chinese government must quickly and unconditionally release all eight Vietnamese fishermen that are being held illegally and the corpses of dead victims. In addition, the Chinese government must fully compensate the families of victims and officially offer apologies to the Vietnamese people for its illegal and malicious action.
The Vietnamese government must protect its citizens effectively by taking harsh action against the aggressive behavior of the Chinese government.
The central committee, culture and media minister, and police minister should allow the media to freely report the people’s reactions to this event and that they should not prevent peaceful demonstration against China as they have recently.
We are calling for collective action according to the people’s morality. We cannot keep silent when a nation is brutally offended.
Hanoi 28 Jan, 2005
The Democracy Club for Viet Namthedemocracyclubforvietnam@yahoo.com
Quyền Lực
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Việt Nam ngày 15/03/2002
Quần Chúng Có Quyền Lực Không ?
Chế độ độc tài dựa trên bạo lực. Bạo lực làm quần chúng khiếp sợ, thần phục và cam phận làm những con cừu hiền lành. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng vẫn có những con cừu ương ngạnh, không chấp nhận bị dẫn dắt, bị nhốt vô chuồng, bị bưng bít, bị che đậy tìm cách phản kháng và tách ra khỏi bầy. Dĩ nhiên con cừu này sẽ bị đánh đập tàn bạo, bị khóa chân tay, khoá mồm, bị bỏ đói và có thể bị cô lập luôn với cả bày để ngăn ngừa nổi loạn.
Mao Trạch Ðông từng dạy "Quyền lực nằm trên nòng súng". Hơn nửa thế kỷ họ Mao đã cai trị đất Trung Quốc trên khái niệm này. Hơn cả tỷ dân đã cúi đầu dưới quyền lực của nòng súng cho đến khi cuộc cách mạng Thiên An Môn bùng nổ. Hình ảnh người thanh niên Trung Quốc đứng chắn giữa đoàn xe tăng thể hiện tận cùng cái bi kịch của cuộc cách mạng. Khi nòng súng không thể nhắm bắn vào nhân dân của mình, quyền lực của chế độ bị thử thách và đe doạ. Và quyền lực của quần chúng hình thành.
Trước khi trở thành Tổng Thống Tiệp Khắc, Vaclav Havel đã phải dấu những bài tiểu luận và kịch bản của mình trong các tàng cây để khỏi bị mật vụ tịch thu. Từ chối cộng tác với chế độ và là một trong những sáng lập viên của "Hiến Chương 77", ông đã bị tuyên án 3 năm tù. Liên tục bị quấy nhiễu, áp lực, kiểm duyệt và bị nghe lén từ bọn công an, mật vụ. Vaclav Havel kiên trì vượt qua những trở lực và đã là biểu tượng cho cuộc cách mạng nhung tại Tiệp.
Trong tiểu luận "Quyền lực của những người không có quyền". Václav Havel cảnh báo " Một hiện tượng ghê gớm đang ám ảnh khối Ðông Âu. Hiện tượng mà phương Tây gọi là "những kẻ phản tỉnh". Ðây không phải là sự kiện từ trên trời rơi xuống, mà nó là một cái gì có tính cách tự nhiên, không thể tránh khỏi, hậu quả của một giai đoạn chuyển biến lịch sử đang làm ám ảnh hệ thống chính quyền Cộng Sản Tiệp. Kết tinh từ hàng ngàn lý do, những kẻ phản tỉnh đã hiện hữu từ lâu, kể từ ngày chính quyền này ra đời vì họ không thể chấp nhận được sự tàn bạo, tùy tiện sử dụng bạo lực để đàn áp tất cả những ai khác chính kiến. Hơn nữa cũng chính vì hệ thống cai trị độc tài này đã trở nên lão hoá, cứng nhắc không thích hợp cho bất cứ một sự ứng dụng mới mẻ nào có ý hướng thay đổi cấu trúc chính trị của nó."
Quần chúng có quyền lực không? Và liệu quyền lực này có khả năng khuất phục được chế độ? Thử đừng phân tích bằng những văn từ cao sang, hàn lâm, làm xa rời quần chúng. Hãy nhìn vấn đề trên bình diện đơn giản, gần gũi với bản chất nông dân và bán công nghiệp của Việt Nam hơn - Nếu con cừu hiền lành chỉ vì một phút nóng nảy, phẫn uất mà phản kháng thì ngay lập tức bị chú ý, và bị đàn áp dã man. Nhưng nếu âm thầm kết bè, chuẩn bị chu đáo để đối đầu. Nếu có cả một tập thể cùng chung lưng đấu cật, để khi bị cô lập, triệt hạ thì ngay lập tức có con khác làm nhiệm vụ thay thế, tiếp tục đấu tranh, vận động làm cho cả bày cùng tỏ thái độ tích cực. Nếu cả bày đột nhiên đứng lại, không đi nữa hoặc cùng ngả về hướng khác thay vì vô chuồng thì sao?. Ðiều này xảy ra cho một con thì đối phó dễ dàng, nhưng với gần nửa số cùng đồng loạt hành động thì bọn chăn cừu chắc phải khiếp sợ, và sau cùng phải lo chạy thối thân để bảo toàn tính mạng, vì đàn cừu không chạy đi mà quay đầu chạy lại. Giai đọan khởi đầu của quyền lực được thai nghén và thử thách từ đó, từ lúc con cừu chạy lại và trực diện phản công kẻ thống trị.
Tóm lại, thời kỳ đấu tranh riêng lẻ, từng cá nhân đã đến lúc cần thay đổi để bước qua giai đoạn tập hợp và tổ chức hóa. Nhu cầu vận động và thành hình nhiều tập thể đối lập trong nước cần mau chóng xúc tiến để dần dần xây dựng quyền lực chính trị, quyền lực này sẽ tạo áp lực mạnh mẻ lên chế độ độc tài, làm đảo lộn trật tự của kẻ cai trị và người bị trị.
Ðại đa số quần chúng an phận và cam chịu. Phần lớn vì sợ bị đàn áp, sợ phải gánh chịu những hệ lụy cho mình và người thân. Phần nữa vì quan niệm dân chủ hoá vẫn còn là một giá trị mới đối với dân tộc liên tục bị cai trị bởi phong kiến, thực dân và cộng sản. Rất ít người Việt Nam có cái tâm nổi loạn của Cao Bá Quát "ba hồi trống dục mồ cha kiếp, một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời". Những người dám đội đá vá trời đếm trên đầu ngón tay, những người vác thập tự thì đang đi trên con đường bị đày ải rồi, và những người dám thách thức chế độ thì hiện vẫn còn thưa thớt.
Tuy vậy, quần chúng, những người đang an phận đó lại nắm quyền lực trong tay. Quyền lực của quần chúng có thực và hiện hữu bất kể ở chế độ nào. Quyền lực thể hiện qua lá phiếu bầu cho ứng cử viên trong một thể chế dân chủ. Quyền lực hiện diện ở các cuộc biểu tình, các vận động áp lực chính trị, các đòi hỏi chính đáng về dân sinh. Quyền lực nằm trong các cuộc nổi loạn từ thời Phong Kiến, các cuộc cách mạng từ thời Thực Dân. Trong khi quyền lực này được khuyến khích và bảo vệ ở các nước Dân Chủ, thì ngược lại tại các nước độc tài, đang bị ngăn chặn, thủ tiêu. Ở các nước Châu Á, nhất là các nước cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn tinh thần dân chủ lại càng không được quảng bá đến đông đảo quần chúng so với các nước phương Tây và Ðông Âu. Khái niệm dân chủ, nếu có gần như chỉ là đặc quyền của giai cấp trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, thiểu số thành thị so với đại đa số quần chúng thợ thuyền, nông dân. Khái niệm này lại càng ít được quảng bá hơn nữa, không chỉ do sự bưng bít của chế độ, mà còn bị hạn chế vì ảnh hưởng của văn hoá Khổng Giáo - Cái văn hoá đặt con người bị trị ở vị trí phải an phận, không dám làm loạn vì " con quan thì lại làm quan, con sãi ở chùa thì quét lá đa".
Vậy thì làm cách nào đánh động được lương tâm của họ để " phản tỉnh", để có thể xây dựng được quyền lực quần chúng. Thứ quyền lực đã làm chùn tay người lính ngồi trên chiếc xe tăng tại quảng trường Thiên An Môn. Quyền lực của những người mà Václav Havel đã phân tích: " Họ là ai vậy? những quan niệm "phản tỉnh" đã hình thành lúc nào? Ảnh hưởng lên xã hội chúng ta bao nhiêu? Tác động đáng kể của những tư tưởng độc lập này ra sao và liệu chừng nào mới mong thấy kết quả thực sự. Có đúng thật không khi cho rằng những người phản tỉnh này nằm trong các lực lượng đối kháng. Và giả sử cho là như vậy đi thì những lực đối kháng này ở đâu, giữ vị trí nào trong guồng máy chế độ. Họ sẽ hành xử thế nào? Tạo ảnh hưởng ra sao trong xã hội? Họ đặt niềm tin ở đâu và dựa trên cơ sở nào? Có cần phải dựa vào quyền lực của những kẻ phản tỉnh này - như một thứ xếp hạng vượt lên trên quyền lực của quần chúng bình thường - để rồi từ đó có thể tạo ra những áp lực trên xã hội và guồng máy của chế độ. Liệu họ có thực sự làm đảo lộn mọi thứ hay không?"
Quyền lực quần chúng không trốn tránh chúng ta, quyền lực không chạy đi đâu cả. Quyền lực hiện hữu, nằm trong chính bàn tay và sức mạnh của những người bị trị, những người mà Havel gọi là "phản tỉnh". Vấn đề còn lại là phải tập hợp và khai dụng quyền lực "phản tỉnh" này thế nào? để có thể nhân rộng, hoà nhập và tác động vào khối đông quần chúng. Ngày nào thiểu số bị trị tập hợp lại và hình thành được quyền lực chính trị của họ; Và quyền lực này chuyển động được quyền lực của quần chúng, ngày đó kẻ thống trị sẽ thấy trật tự mà họ áp đặt bị đảo lộn.
Thành Yên & Nguyễn Bạch
CLB Dân Chủ Việt Nam
Thư Ngỏ
Thư Ngỏ Gửi Ðồng Bào Việt Nam
Trân trọng gửi tới Qúi Bà, Qúi Ông, Quí Cô, Anh, Chị, Em và Qúi Vị
Là người Việt Nam đang sống trong thời đại mà loài người nói chung đã đạt được những tiến bộ vĩ đại về đời sống vật chất và văn hóa, ai mà chẳng cảm thấy có một chút buồn và tủi hổ khi nghĩ đến đất nước Việt Nam vẫn còn đang trong cảnh nghèo khổ, kìm hãm và lạc hậu. Và đều mong muốn góp phần thay đổi đất nước, giúp quê hương và dân tộc thoát khỏi cảnh đói nghèo, bất công và độc tài. Chúng tôi thiết nghĩ đó cũng là khát vọng của bất cứ người Việt Nam nào, dù đang sống tại quê hương Việt Nam hay đang ở bất kỳ góc bể chân trời nào trên thế giới.
Ðể đất nước sớm có cơ hội thoát khỏi cảnh bất công, nghèo khó, tất nhiên chúng ta cần loại bỏ thiểu số thành phần cai trị trong chính dân tộc chúng ta. Những thiểu số hiện đang cố tình đẩy lùi và kìm hãm khát vọng chân chính của cả dân tộc. Vì vậy, cho dù bằng những cách khác nhau, ở cách biệt khác nhau, và trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, nhiều người đã, đang và sẽ kiên trì tiếp tục hướng tới mục tiêu cao thượng đó. Chúng ta hãy vui mừng cho dân tộc Việt Nam luôn có những con người dám đương đầu với cường quyền, bạo lực, khó khăn, thách thức và nguy hiểm! Và chúng ta hãy cùng tưởng niệm cho những người đã ngã xuống. Hồn thiêng sông núi của Tổ Quốc Việt Nam mãi mãi ghi công những người con nghĩa khí đó. Và cùng nguyện cầu cho những người còn lại tiếp tục đoạn đưòng gian truân, cầu cho chân cứng đá mềm.
Trong đấu tranh, sự tổn thất và hy sinh là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên hãy cùng nhau sát cánh để tránh những tổn hại, hy sinh đáng tiếc, và chắc chắn điều này cũng là mong mỏi, nguyện vọng của những người đã ngã xuống, hoặc đang còn trong vòng lao lý, tù đày. Chúng ta cần cẩn trọng hơn nữa, sát cánh bên nhau hơn nữa, trao đổi, thảo luận cũng như cùng yểm trợ nhau khi gặp khó khăn. Khi đó chúng ta mới mong đạt được sức mạnh đủ làm bạo quyền phải Khiếp sợ, Bất lực và Thất bại. Những thành công của một dân tộc trong lịch sử, đều là kết quả từ sự đồng lòng của chính dân tộc đó. Là con dân nước Việt, ai mà chẳng thấy tủi khi có người nói "Một người Việt Nam thì giỏi hơn một người nước ngoài, hai người thì cũng giỏi hơn, nhưng ba người thì lại tệ hơn một người nước ngoài." Chắc chắn điều này không hoàn toàn đúng, nhưng cũng đáng để chúng ta suy gẫm. Và điều này lại khẳng định một lần nữa sự cần thiết của đồng lòng Dân Tộc.
Với những suy nghĩ, tâm tư vừa giãi bày cùng với qúi bà, qúi ông, qúi cô, anh, chị, em và qúi vị. Chúng tôi thực sự mong muốn chúng ta, dù trong hay ngoài nước hãy cùng nhau gạt bỏ đố kỵ, khác biệt, thành kiến, tự ái để cùng nhau bàn bạc, thảo luận, đối thoại, liên kết nhằm tạo ra một sức mạnh dân tộc, to lớn hơn nữa, cụ thể hơn nữa thì mới mong đưa đất nước thoát khỏi vòng lệ thuộc, thay đổi được vận mệnh của dân tộc, sớm mang lại Tư Do, Dân Chủ, Ðộc Lập và Giàu Mạnh cho Việt Nam.
Chắc chắn Ðồng lòng sẽ bẽ gãy họng súng của Ðộc tài.
Trân trọng
CLB Những Chiến Sĩ Dân Chủ cho Việt NamViệt Nam, ngày 15/3/2002
Letter To UN Secretary General, Kofi Annan
Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt NamCâu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Ngày 15 tháng 7 năm 2003
Ngài Kofi Annan
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
United Nations Plaza
New York, NY 10017, USA212-963-7055 faxEmail: ecu@un.orgThưa Ngài Kofi Annan
Ngày 18 tháng 6 năm 2003 vừa qua, bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã bị kết án 13 năm tù và ba năm quản chế vì bị cáo buộc tội "gián điệp". Nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới như Hiệp Hội Ký Giả Không Biên Giới, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả, Hội Quan Sát Nhân Quyền, Hội Ân Xá Quốc Tế đã nghiêm khắc lên án hành động đáng chê trách và thiếu văn minh của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Hồi năm ngoái, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã giam giữ bất hợp pháp quý ông Lê Chí Quang, ông Nguyễn Khắc Toàn, ông Nguyễn Vũ Bình, giáo sư Trần Khuê, ông Phạm Quế Dương, ông Trần Dũng Tiến, bác sĩ Nguyễn Đan Quế và bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Những người bị giam giữ này không vi phạm tội trạng nào cả. Họ chỉ có tội là đã dám cất tiếng nói một cách tự do, diễn đạt quan điểm một cách độc lập và thực hiện các quyền công dân hợp pháp và hợp hiến. Tuy nhiên, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tìm cách dập tắt các tiếng nói phản kháng bằng cách bắt và giam tất cả trong tù với những bản án nặng nề.
Việt Nam là hội viên của Ủy Ban về Nhân Quyền thuộc Liên Hiệp Quốc trong đó bản Công Ứớc Quốc Tế về quyền Dân Sự và Chính Trị, điều 19, đã long trọng xác nhận: "quyền tìm kiếm, thu nhận, trao đổi dữ kiện và tư tưởng, không kể xuất xứ từ đâu và bằng các phương tiện như in ấn, viết, phát biểu hay bất cứ hình thức phổ quát nào". Chúng tôi nghĩ rằng Việt Nam phải bị ràng buộc bởi những luật lệ quốc tế mà chính Việt Nam đã từng ký kết công nhận, kể cả việc cam kết tôn trọng quyền được tự do diễn đạt tư tưởng.
Thưa ông Tổng Thư Ký, tôn chỉ của Cao Ủy Nhân Quyền trực thuộc Liên Hiệp Quốc đã khẳng quyết "bảo vệ và phát huy quyền làm người cho cả nhân loại bất kể từ đâu”. Vì vậy, chúng tôi ký tên dưới đây khẩn kêu gọi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc lên tiếng và có thái độ trước sự vi phạm trầm trọng của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đồng thời đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho Bác sĩ Phạm Hồng Sơn và nhiều nhà bất đồng chính kiến khác còn đang bị giam giữ.
Cám ơn sự quan tâm của ông Tổng Thư Ký,
Trần Hoàng Lê - Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt NamViệt Nam,
e-mail: cfppvn@yahoo.com
Trần Nam - Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt NamCalifornia USA, e-mail: thedemocracyclubforvietnam@yahoo.com
Đồng gửi:
Ông Trần Đức Lương
Chủ Tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Hà Nội, Việt Nam
Ông Colin Powell
Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ - Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
Ông Lorne Craner
Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao, đặc trách về Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động - Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
Đại sứ John D. Negroponte
Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc - Nữu Ước, Hoa Kỳ
Đại sứ Raymond F. Burghardt
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam - Hà Nội, Việt Nam
Thượng Nghị Sĩ John Kerry
Văn phòng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
Bà Dân Biểu Zoe Lofgren
Văn phòng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
Dân Biểu Ed Royce
Văn phòng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
Ban/Tiểu Ban Khiếu Nại về vi phạm Nhân Quyền
Văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc - Geneva, Thụy Sĩ
Văn phòng Cao Ủy Đặc Trách về Nhân Quyền
Liên Hiệp Quốc - Nữu Ước, Hoa Kỳ
Ông Sergio Vieria de Mello
Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc - Geneva, Thụy Sĩ
-------------------------------------------
The Committee To Free Political Prisoners in Viet Nam
The Democracy Club for Viet Nam
July 15, 2003
The Honorable Kofi Annan
Secretary General of the United Nations
United Nations Plaza
New York, NY 10017, USA212-963-7055 faxE-mail: ecu@un.org
Dear Secretary General, Kofi Annan:
On June 18th, 2003 Dr. Pham Hong Son was sentenced to 13 years of imprisonment and 3 years of house arrest for his alleged crime of spying. International human rights organizations, including Reporters Without Borders, The Committee to Protect Journalists, Human Rights Watch and Amnesty International, have condemned the Socialist Republic of Viet Nam for such an outrageous and uncivilized sentence.
Last year, Ha Noi Government illegally detained several people including Mr. Le Chi Quang, Mr. Nguyen Khac Toan, Mr. Nguyen Vu Binh, Professor Tran Khue, Mr. Pham Que Duong, Mr. Tran Dung Tien, Dr. Nguyen Dan Que and Dr. Pham Hong Son. These individuals have committed no crimes; they only speak their own free voices, write their own independent opinions and exercise their own constitutional rights. However, the Socialist Republic of Viet Nam has ignored these basic human rights; they continue to crack down on Vietnamese Dissidents by using harsh sentences to silence them.
Viet Nam is a member of the UN Commission on Human Rights in which the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), Article 19, clearly states protection of the right to "seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, or through any other media of his choice". We believe that the Viet Nam authorities should abide by international law when they have signed the United Nations Treaty, which declares respect to the right to have freedom of expression.
As the mission statement of the United Nations Commission for Human Rights states: - to protect and promote all human rights for all – We, the undersigned, urgently call upon you to condemn the violations committed by the Socialist Republic of Viet Nam and demand the immediate release of Dr. Pham Hong Son and other detained individuals.
Thank you for your concern,
Tran Hoang Le – The Committee To Free Political Prisoners in Viet Nam - Viet Nam
e-mail: cfppvn@yahoo.com
Nam Tran – The Democracy Club for Viet Nam - California, USAe-mail: Thedemocracyclubforvietnam@yahoo.com
cc:
Tran Duc Luong
President, Socialist Republic of Vietnam
C/o Ministry of Foreign AffairsHanoi, Vietnam
Via facsimile: 011-84-4-823-1872
Colin Powell
Secretary of State
US State Dept, 2201 C St.,
NWWashington, DC 20520 - US
202-647-5291; Fax: 202-647-6434
E-mail: secretary@state.gov
Lorne Craner
Assistant Secretary of State for Democracy,
Human Rights and LaborDepartment of State
2201 C Street, NWWashington, DC 20520, USA
fax: 202-647-5283
Ambassador John D. Negroponte
US Ambassador to the United Nations
799 UN PlazaNew York, NY 10017, USA
usaun@undp.org
Tel: 212-415-4050 / fax: 212-415-4443
Raymond F. Burghardt
US Ambassador to Socialist Republic of Vietnam
United States Embassy
7 Lang Ha StreetBa Dinh DistrictHanoi, Vietnam
Telephone: 84-4-7721500 Fax: 84-4-7721510
E-mail: irchano@pd.state.gov
Senator John Kerry
C/o Washington, D.C. Office519 C Street, NEWashington, DC 20002
Tel: 202 548-6800 fax: 202-548-6801
washingtondc@johnkerry.com
Congresswoman Zoe Lofgren
Washington, D.C. Office:102 Cannon House Office BuildingWashington, D.C. 20515
Phone: (202) 225-3072 Fax: (202) 225-3336
zoe.lofgren@mail.house.gov
Congressman Ed Royce
U.S. Rep. Ed Royce (CA-40)2202 Rayburn House Office BuildingWashington, DC 20515
(202) 225-4111 phone(202) 226-0335 fax
julianne.lignelli@mail.house.gov
Commission/Sub-Commission
TeamSupport Services BranchOffice of the High Commissioner for Human RightsUnited Nations Office
1211 Geneva 10, Switzerland Fax + 41 22 9179011
E-mail 1503.hchr@unog.ch
New York Office of the High Commissioner for Human Rights
United Nations
One United Nations PlazaRoom S-2914
New York, NY 10017USA
Sergio Vieria de MelloUN High Commissioner for Human RightsOffice
148 United Nations20520 Palais des Nations
8-14 Avenue de la Paix, 1211
Geneva 10 Switzerland
fax: 41-22-917-9022
Bài Nói Chuyện Của Bill Clinton
Bài nói chuyện của Bill ClintonTổng thống Hoa Kỳ với sinh viên trường đại học Quốc gia Hà Nội 15/7/2000
Cảm ơn mọi nguời rất nhiều, và chúc các bạn một buổi chiều tốt lành.
Tôi không nghĩ ra đuợc nơi nào tốt hơn trường Ðại học Quốc gia Hanoi để bắt đầu chuyến thăm vào thời điểm đầy hy vọng này trong lịch sử của chúng ta. Tôi đã được dạy một câu tiếng Việt, tôi sẽ thử nói. Nếu tôi nói sai, các bạn cứ cuời tự nhiên. [Nói tiếng Việt] "Xin chào các bạn".
Bao nhiêu hứa hẹn của quốc gia non trẻ này đặt vào các bạn. Tôi đuợc biết rằng các bạn có trao đổi với sinh viên của hơn 100 truờng đại học, từ Pháp, Canada, đến Hàn Quốc … và rằng các bạn đang tiếp đãi hơn một tá sinh viên từ truờng kết nghĩa của các bạn bên Hoa Kỳ,Ðại học California. Tôi xin chào các cố gắng nhiệt thành của các bạn trong tiếp xúc với thế giới. Tất nhiên, giống như sinh viên khắp nơi, tôi biết các bạn có những mối bận tâm ngoài việc học hành. Chẳng hạn tháng Chín vừa rồi các bạn phải vừa học vừa theo dõi những thành tựu của Trần Hiếu Ngân giành đuợc ở Sydney. Tuần này thì các bạn phải vừa học vừa cổ vũ cho Lê Huỳnh Ðức và Nguyễn Hồng Sơn thi đấu bóng đá bên Bangkok.
Vinh dự cho tôi đuợc là tổng thống Mỹ đầu tiên được thấy Hà nội và được thăm truờng đại học này. Tuy nhiên, tôi làm hai việc này với hiểu biết rằng lịch sử của hai quốc gia chúng ta ràng buộc với nhau đã gây ra đau thương cho các thế hệ đi trước, và cũng là một nguồn hứa hẹn cho các thế hệ sau này.
Xin chào mọi người.
Hai thế kỉ trước, trong những ngày đầu của Hợp Chúng Quốc, chúng tôi đã vươn qua biển cả để tìm bạn hàng và Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên chúng tôi gặp. Chính ra, một trong những cha anh lập quốc của chúng tôi Thomas Jefferson, đã tìm cách nhập gạo giống từ Việt Nam để trồng tại trang trại của ông ta ở Virginia 200 năm truớc. Tữ đó tới khi Chiến tranh Thế giới II dến, Hoa Kỳ đã trở thành một nơi tiêu thụ đáng kể các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam . Năm 1945, tại thời điểm khai sinh đất nuớc của các bạn, lời của Thomas Jefferson đã được chọn để vọng lại trong bản Tuyên ngôn Ðộc lập của chính các bạn : "Mỗi nguời sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho chúng ta những quyền không thể bị xâm phạm - quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu câù hạnh phúc." Tất nhiên, toàn bộ lịch sử chung này, cả 200 năm, đã bị xoá mờ trong vài thập kỷ bởi cuộc đụng độ mà chúng tôi gọi là cuộc Chiến tranh Việt Nam , còn các bạn thì gọi là Kháng chiến chống Mỹ. Có thể các bạn đã biết là ở Washington, D.C., tại công viên Quốc gia của chúng tôi, có một bức tuờng cẩm thạch đen trang nghiêm khắc tên của từng nguời Mỹ một chết tại Việt Nam . Tại bức tường này, một số cựu chiến binh Mỹ đã nói tới “phía kia của bức tường" sự hy sinh ghê gớm của nhân dân Việt Nam từ cả hai phía của cuộc chiến - hơn 3 triệu binh sĩ dũng cảm và dân thường. Sự mất mát chung này đã cho hai nước chúng ta một quan hệ không giống quan hệ nào khác. Vì cuộc chiến, nước Mỹ hiện nay là nhà của 1 triệu nguời Mỹ gốc Việt. Vì cuộc chiến, 3 triệu cựu chiến binh Mỹ đã phục vụ ở Việt Nam , cũng như nhiều phóng viên, nhân viên ngoại giao, những người làm công tác nhân đạo và nhiều người khác đã bị ràng buộc với đất nước các bạn mãi mãi.
Gần 20 năm trước đây, một nhóm quân nhân đã đi bước đầu trong việc tạo lại tiếp xúc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam . Họ trở lại Việt Nam lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh, và khi họ đang bước trên đường phố Hanoi, những người Việt nghe được về chuyến đi của họ đã lại gần : Các anh có phải là những người lính Mỹ đó không, họ hỏi. Không chắc phải trông chờ cái gì, các cựu chiến binh của chúng tôi đã trả lời : Phải, đúng là chúng tôi. Và trong sự nhẹ nhõm khôn lường của họ, những người chủ nhà chỉ nói : chào mừng đã tới Việt Nam . Các cựu chiến binh khác đi tiếp theo, trong đó có những cựu chiến binh Mỹ xuất chúng và những anh hùng mà hiện đang phục vụ tại Quốc hội Hoa Kỳ : Nghị sĩ John McCain, nghị sĩ Bob Kerrey, nghị sĩ Chuck Robb, và nghị sĩ John Kerry của Massachusetts , người đang có mặt ở đây với tôi hôm nay, cùng với một số dân biểu trong Quốc hội, vài người trong số họ là cựu binh của cuộc đụng độ Việt Nam . Khi họ tới đây, họ đã quyết tâm làm vẻ vang những người đã tham chiến mà không phải tái diễn các trận đánh ; ghi nhớ lịch sử nhưng không lặp lại ; tạo cho các thanh niên giống các bạn ở cả hai nuớc cơ hội đuợc sống trong ngày mai, không phải như trong ngày hôm qua. Như Ðại sứ Pete Peterson đã nói một cách rất thông bác : "Ta không thay đổi đuợc quá khứ. Cái ta thay đổi đuợc là tuơng lai".
Mối quan hệ mới của chúng ta đã trở nên gắn bó hon khi các cựu chiến binh Mỹ bắt đầu các tổ chức phi lợi nhuận để làm việc đại diện cho những người dân Vietnam, chẳng hạn như cung cấp thiết bị cho những người bị thuơng do chiến tranh để giúp họ có cuộc sống bình thường hơn. Thiện chí của Vietnam giúp đỡ chúng tôi đưa thi hài của những quân nhân đã ngã xuống về với gia đình của họ là việc làm to lớn nhất để tăng cường các mối liên kết. Có nhiều người Mỹ ở đây đã thực hiện sứ mạng đó nhiều năm nay, trong đó có Thư ký các Vấn đề Cựu Chiến binh, Hershel Gober.
Lòng mong muốn đuợc đoàn tụ với những thân nhân đã mất là cái mà tất cả chúng ta đều hiểu đuợc. Việc mỗi Chủ nhật tại Việt Nam , chương trình truyền hình được nhiều người xem nhất có mục các gia đình nhờ sự giúp đỡ của khán giả để tìm kiếm những nguời thân đã mất từ rất lâu trong chiến tranh làm xúc động trái tim của những người Mỹ. Và chúng tôi nhớ ơn những người nông dân Việt Nam đã giúp đỡ tìm những người mất tích bên phía chúng tôi, và nhờ đó tạo cho các gia đình của họ sự yên bình khi biết điều gì đã thực sự xảy ra đối với thân nhân của họ.
Không có hai quốc gia nào từng làm những việc mà chúng ta đang làm để tìm những người mất tích trong cuộc đụng độ Việt Nam . Các toán Mỹ và Việt làm việc cùng nhau, nhiều khi tại các địa điểm căng thẳng và nguy hiểm. Chính quyền Việt Nam đã cho chúng tôi xử dụng hồ sơ và thông tin chính quyền nhằm giúp đỡ cuộc tìm kiếm của chúng tôi. Nguợc lại, chúng tôi đã đưa đuợc cho Việt Nam gần 400.000 trang tài liệu có thể giúp các bạn tìm kiếm. Trong chuyến đi này, tôi mang theo 350.000 trang tài liệu nữa mà tôi hi vọng sẽ giúp các gia đình Việt Nam biết đuợc chuyện gì đã xảy ra với những người thân đã mất tích của họ.
Hôm nay, tôi rất vinh dự đuợc trao những trang đó cho Chủ tịch của các bạn, Trần Ðức Luơng. Và tôi nói với ông ấy rằng trong năm nay, Mỹ sẽ cung cấp thêm một triệu trang tài liệu. Chúng tôi sẽ tiếp tục giúp và nhờ giúp vì cả hai bên chúng ta đều tôn trọng lòng quyết tâm của chúng ta làm bất kỳ cái gì có thể, bất kể bao lâu cho tới khi đạt đuợc thông tin đầy đủ nhất về những người thân.
Sự hợp tác của các bạn trong công cuộc này trong vòng tám năm qua đã tạo cho nuớc Mỹ cơ hội ủng hộ quốc tế cho Việt Nam vay tiền, nối lại thuơng mại giữa hai nuớc, thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và, trong năm nay, ký một hiệp định cột mốc về thương mại.
Cuối cùng thì nuớc Mỹ cũng đã nhìn Việt Nam như đồng bào của các bạn đã đòi hỏi hàng năm nay - như một đất nuớc, không phải như một cuộc chiến. Một đất nuớc với tỷ lệ biết chữ cao nhất Ðông Nam á ; một đất nuớc mà con em của nó vừa mới đạt ba huy chuơng vàng tại Olympiad Toán Quốc tế ở Seoul; một đất nuớc của những doanh nhân tài năng và cần cù đang vuơn ra khỏi những năm tháng tranh chấp và bất định để gây dựng một tuơng lai tuơi sáng.
Hôm nay, Hoa Kỳ và Việt Nam mở ra một chuơng mới trong quan hệ của chúng ta, vào thời điểm mà mọi nguời trên khắp thế giới giao thuơng nhiều hơn, du lịch nhiều hơn, biết nhiều hơn về nhau và nói với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Dù mọi người tự hào về nền độc lập quốc gia của họ, chúng ta biết rằng chúng ta ngày càng phụ thuộc lẫn nhau hơn. Dòng người , tiền bạc và tư tuởng qua các biên giới, thật lòng, sinh ra sự nghi ngờ trong lòng nhiều người tốt ở mỗi quốc gia. Họ lo về toàn cầu hoá vì những hệ quả bất ổn và bất luờng của nó.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa không phải cái ta có thể khất hay dập tắt. Trong kinh tế, nó là cái tuơng đuơng với lực tự nhiên - như gió hay nuớc. Ta có thể thuận gió để căng buồm. Ta có thể dùng nuớc để tạo ra năng luợng. Ta có thể cố gắng để bảo vệ con nguời và tài sản khỏi bão và lụt. Nhưng không có lý gì để chối bỏ sự tồn tại của gió và nuớc, hay cố gắng làm chúng biến mất. Ðối với toàn cầu hóa cũng vậy. Chúng ta có thể làm để đạt lợi ích tối đa từ nó và giảm các nguy cơ xuống mức tối thiểu, nhưng ta không thể tảng lờ nó, và nó cũng sẽ không biến mất.
Trong thập kỷ vừa qua, với luợng mậu dịch quốc tế tăng gấp đôi, đầu tư chảy từ các nuớc giàu sang các nuớc đang phát triển đã tăng sáu lần, từ 25 tỉ dollar [Mỹ] năm 1990 lên 150 tỉ dollar năm 1998. Các quốc gia mở cửa nền kinh tế của họ cho hệ thống thuơng mại quốc tế tăng truởng nhanh gấp ít nhất là hai lần các quốc gia với kinh tế đóng cửa. Việc làm sắp tới của các bạn rất có thể sẽ phụ thuộc vào ngoại thuơng và đầu tư từ nuớc ngoài. Nhân nghĩ đến chuyện này, vì tôi phải rời nhiệm trong vòng khoảng tám tuần, việc làm tiếp theo của tôi có thể phụ thuộc vào ngoại thuơng và đầu tư.
Trong 15 năm qua, Việt Nam đã bắt đầu chính sách Ðổi Mới, tham gia APEC và ASEAN, bình thường hoá quan hệ với Liên Hợp Châu Âu (European Union) và Hoa Kỳ, từ bỏ hợp tác xã nông nghiệp, để nông dân quyền tự do trồng những cái họ muốn và hưởng hoa lợi từ lao động của chính họ. Các kết quả là bằng chứng đầy thuyết phục cho sức mạnh của thị truờng của các bạn cũng như khả năng của người dân. Các bạn không những đã chinh phục được sự suy dinh dưỡng mà đã trở thành nhà xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới và đạt đuợc mức tăng trưởng kinh tế toàn diện, mạnh hơn.
Ðúng là trong vài năm vừa rồi, tại đây suất tăng trưởng đó đã chậm lại và đầu tư nước ngoài đã giảm xuống, cho thấy là mọi toan tính nhằm tự tách khỏi những hiểm nguy của nền kinh tế toàn cầu đều cũng dẫn đến tách khỏi những kết quả tốt đẹp từ nó.
Hè vừa qua, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nói , và tôi trích lại, "Chúng ta chưa đạt được mức phát triển tương ứng với tiềm năng của nuớc ta. Và chỉ có một con đường là mở rộng nền kinh tế hơn nữa". Vì thế, hè qua, trong cái mà tôi tin sẽ được nhìn nhận như là một bước cột mốc lại gần sự phồn vinh trong tương lai của các bạn, Việt Nam đã cùng với Hợp Chúng Quốc kí một hiệp định thương mại song phương mang tính lịch sử, đặt móng cho con đường cuối cùng sẽ dẫn Việt Nam vào Tổ chức Thuơng mại Quốc tế. Theo hiệp định đó, Việt Nam sẽ cho công dân, và theo thời gian cho cả công dân của các nước khác, quyền nhập, xuất, và phân phối hàng hoá, cho nhân dân Việt Nam thêm quyền định đoạt số phận kinh tế của chính họ. Việt Nam đã đồng ý sẽ đặt các quyết định quan trọng trong khuôn khổ luật pháp và hệ thống thương mại quốc tế, tăng cường dòng thông tin đến nhân dân, và gia tốc sự tăng trưởng của kinh tế tự do và khu vực kinh tế tư nhân. Ðương nhiên là các bạn hàng quốc tế của Việt Nam , như Hoa Kì, sẽ có lợi. Nhưng các doanh nhân Việt Nam , những người đang cần cù xây dựng cơ nghiệp của chính họ, sẽ còn được lợi nhiều hơn. Theo hiệp định này, Việt Nam sẽ có thể thu đuợc, theo World Bank, thêm 1,5 tỉ dollar [Mỹ] từng năm một, riêng từ xuất khẩu.
Cả hai quốc gia chúng ta đều được khai sinh bằng Tuyên ngôn Ðộc lập. Hiệp định thương mại này là một dạng tuyên ngôn của sự phụ thuộc lẫn nhau, một lời tuyên bố rõ ràng, đơn nghĩa rằng thịnh vượng trong thế kỷ 21 lệ thuộc vào sự ăn khớp gắn liền của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Sự cởi mở mới này là một cơ hội to lớn cho các bạn. Nhưng nó chưa chắc bảo đảm thành công. Còn phải làm gì nửa ?. Việt Nam thật là một đất nước trẻ, với 60 phần trăm dân số dưới 30 tuổi, và 1,4 triệu người gia nhập lực lượng lao động mỗi năm. Các nhà lãnh đạo của các bạn đã nhận ra rằng chính quyền và các doanh nghiệp nhà nuớc không thể tạo ra 1,4 triệu việc làm hàng năm. Họ biết là các ngành công nghiệp đang lèo lái kinh tế thế giới ngày nay - máy tính, viễn thông, công nghệ sinh học - tất cả đều dựa vào kiến thức. Ðấy là lí do tại sao các nền kinh tế trên khắp thế giới tăng trưởng nhanh hơn khi thanh niên học hành lâu hơn, khi nữ giới có các cơ hội học hành như nam giới, và khi thanh niên như các bạn có đầy đủ cơ hội để khám phá những ý tưởng mới và biến những ý tưởng đó thành các cơ hội kinh doanh của chính các bạn.Các bạn có thể trở thành - đúng ra, những ngườI như ở trong hội trường này, ngày hôm nay phải trở thành - đầu máy của sự thịnh vượng tương lai của Việt Nam . Như Chủ tịch Trần Ðức Luơng đã nói, nội lực của đất nước là trí tuệ và khả năng của nhân dân.
Hoa Kỳ mang lòng tôn trọng to lớn đối với trí tuệ và khả năng của các bạn. Một trong những chương trình trao đổi giáo dục lớn nhất của chính quyền chúng tôi là với Việt Nam . Chúng tôi còn muốn làm hơn thế. N.S. Kerry ở ngay đây, và tôi đã nhắc tới ông trước đó - đang lãnh đạo một nỗ lực tại Quốc hội Hoa Kỳ, cùng với N.S. John MacCain và các cựu chiến binh của cuộc đụng độ ở đây, để lập ra một Quỹ Giáo dục Việt Nam mới. Khi đã bắt đầu hoạt động, quỹ này sẽ trợ giúp 100 học bổng nghiên cứu hàng năm, tại đây hoặc Hoa Kỳ, cho những người học và dạy khoa học, toán, kĩ thuật, và y khoa. Hiện nay chúng tôi sẵn sàng dành thêm tiền cho các chương trình trao đổi để nỗ lực này có thể lên đường ngay lập tức. Tôi hi vọng vài người trong các số các bạn đang ở trong phòng này sẽ có cơ hội tham gia. Và tôi muốn cảm ơn Nghị sĩ Kerry về ý tưởng tuyệt vời này. Cám ơn quí ngài về những việc ngài đã làm. [Vỗ taỵ ].
Tôi xin nói, dù kiến thức có quan trọng đến đâu, những lợi ích của kiến thức nhất định bị giới hạn bởi những cấm đoán vô lý khi sử dụng nó. Người Mỹ chúng tôi tin vào sự tự do tìm tòi, du lịch, suy nghĩ, phát ngôn, nhào nặn các quyết định ảnh huởng tới cuộc sống của chúng tôi, cải thiện cuộc sống của các cá nhân và quốc gia trên các mặt vuợt xa khỏi khuôn khổ kinh tế.
Lịch sử của Mỹ trong lĩnh vực này cũng không hoàn hảo. Nói cho cùng thì chúng tôi đã mất gần một thế kỉ để bãi bỏ chế độ nô lệ. Chúng tôi còn mất nhiều thời gian hơn để cho nữ giới quyền bầu cử. Và chúng tôi vẫn còn đang cố gắng để xứng đáng với một liên bang hoàn hảo hơn như những nhà lập quốc đã mơ tới và như những lời trong Tuyên ngôn Ðộc lập và Hiến pháp của chúng tôi. Nhưng trải qua 226 năm đó ,chúng tôi đã học được vài bài. Chẳng hạn, chúng tôi đã nhìn ra rằng kinh tế phát triển tốt hơn ở những nơi mà báo chí được tự do phanh phui tham nhũng, và toà án độc lập có thể bảo đảm rằng các hợp đồng được tôn trọng, rằng cạnh tranh được chắc chắn và công bằng, rằng các công chức tôn trọng luật pháp. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền bất đồng chính trị không hề đe dọa sự ổn định xã hội. Ngược lại, chúng xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự công bằng của chế độ của chúng tôi, và giúp chúng tôi chấp nhận một quyết định không đúng theo ý chúng tôi. Tất cả cái đó làm đất nước chúng tôi mạnh hơn trong sung suớng cũng như trong gian khổ . Theo kinh nghiệm của chúng tôi, thanh niên dễ tin tuởng vào tuơng lai của họ hơn nếu họ có tiếng nói trong việc nhào nặn (uốn nắn) họ, trong việc lựa chọn các nhà lãnh đạo chính quyền và việc có một chính quyền có trách nhiệm đối với những nguời mà nó phục vụ. Nay, tôi xin nhấn mạnh, chúng tôi không hề tìm cách áp đặt các lý tuởng đó, và chúng tôi cũng không thể. Việt Nam là một đất nước lâu đời và trường tồn. Các bạn đã chứng tỏ với thế giới rằng các bạn sẽ tự quyết định cho chính mình. Chỉ có các bạn mới có thể quyết định, nói ví dụ, là các bạn có tiếp tục chia sẻ các tài năng và ý tưởng của Việt Nam với thế giới hay không; các bạn có tiếp tục mở cửa (để ngỏ) Việt Nam để có thể cải thiện nó với những đánh giá [nhận định] của người khác hay không . Chỉ có các bạn mới có thể quyết định có tiếp tục mở cửa thị trường, mở cửa xã hội, và củng cố luật pháp hay không. Chỉ có các bạn mới có thể quyết định làm sao để dệt tự do cá nhân và quyền con người vào tấm vải rực rỡ và bền vững của hồn dân tộc Việt Nam .
Tương lai của các bạn phải nằm trong tay các bạn, tay của nhân dân Việt Nam . Nhưng tương lai của các bạn cũng quan trọng đối với tất cả chúng tôi. Bởi lẽ nếu Việt Nam thành công, nó sẽ làm lợi cho khu vực này và các đối tác mậu dịch của các bạn và bè bạn khắp thế giới.Chúng tôi rất mong muốn đuợc tăng cường sự hợp tác với các bạn trên mọi mặt.
Chúng tôi muốn tiếp tục công việc dọn mìn và các bom đạn chưa phát nổ. Chúng tôi muốn củng cố các nỗ lực chung trong việc bảo vệ môi trường bằng cách loại bỏ xăng pha chì ở Vietnam, giữ nguồn nước sạch, bảo vệ các rặng san hô và rừng nhiệt đới.
Chúng tôi muốn gia tăng các nỗ lực trong phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai, kể cả các nỗ lực của chúng tôi nhằm giúp đỡ những người phải chịu lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long (Mekong). Hôm qua, chúng tôi đã tặng chính quyền các bạn các hình ảnh vệ tinh từ Mạng Thông tin Thiên tai Toàn cầu-- những hình ảnh mô tả các mực nuớc lũ gần đây nhất từ vùng đồng bằng đó, một cách rất chi tiết để có thể giúp các bạn tái thiết.
Chúng tôi muốn gia tăng hợp tác khoa học, sự hợp tác mà trong tháng này tập trung vào cuộc gặp tại Singapore để nghiên cứu các ảnh huởng y tế và sinh thái của dioxin tới nhân dân Vietnam và những nguời Mỹ đã từng ở Việt Nam ; và sự hợp tác mà chúng ta đang mở rộng bằng Hiệp định Khoa học và Kỹ thuật hai nước chúng ta vừa mới kí ngày hôm nay.
Chúng tôi muốn là đồng minh của các bạn chống lại những bệnh dịch chết nguời như AIDS (bệnh liệt kháng, Si-đa) , lao phổi, và sốt rét. Tôi rất vui mừng được tuyên bố rằng chúng tôi sẽ tăng gần gấp đôi sự ủng hộ của chúng tôi với các nỗ lực của Việt Nam trong việc ngăn chặn thảm họa AIDS bằng giáo dục, phòng ngừa, chăm sóc và điều trị.
Chúng tôi muốn hợp tác cùng các bạn biến Việt Nam thành một nơi an toàn, bằng cách giúp các bạn giảm các tai nạn đáng lẽ có thể ngăn ngừa đuợc - ngoài phố, trong nhà, và ở sở.
Chúng tôi muốn cùng các bạn khai thác triệt để hiệp định thương mại này, bằng cách cung cấp trợ giúp kĩ thuật để bảo đảm sự vận hành tối đa và trơn tru của nó, và tìm cách khuyến khích thêm đầu tư của Hoa Kỳ ở Việt Nam .
Chúng tôi, tóm lại, mong muốn xây dựng quan hệ bạn hàng với Việt Nam . Chúng tôi tin rằng điều đó tốt cho cả hai nước chúng ta. Chúng tôi tin rằng nhân dân Việt Nam có đủ tài để thành công trong kỉ nguyên toàn cầu mới này cũng như họ đã từng làm trong quá khứ. Chúng tôi biết thế vì chúng tôi đã thấy những tiến bộ các bạn đạt được trong thập kỉ vừa qua. Chúng tôi đã thấy tài năng và sự lanh lợi của những người Việt tới Mỹ định cư. Những người Mỹ gốc Việt đã trở thành các quan chức dân cử, quan toà, những người lãnh đạo trong khoa học và các ngành công nghệ kĩ thuật cao của chúng tôi. Năm ngoái, một nguời Mỹ Việt (Mỹ gốc Việt) đã đạt được
bước đột phá trong toán học làm nhẹ việc thực hiện các cuộc họp truyền hình chất luợng cao . Và cả nước Mỹ đã chú ý khi Hoang Nhu Tran tốt nghiệp thủ khoa tại Học viện Không lực Hoa Kỳ.
Những người Mỹ Việt đã thành đạt rực rỡ không chỉ nhờ vào những khả năng đặc biệt và các giá trị tốt đẹp của họ, mà còn nhờ họ đã có cơ hội để tận dụng các khả năng và giá trị của họ. Khi các cơ hội của bạn có thể phát triển : để sống, để học, để thể hiện sự sáng tạo, sẽ không có điểm dừng cho nhân dân Vietnam. Và, tôi chắc chắn, các bạn sẽ thấy rằng nhân dân Mỹ sẽ ở bên các bạn. Bởi lẽ trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau này, chúng tôi quả thực có phần hùn trong thành công của các bạn.
Gần 200 năm truớc, tại buổi đầu của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, hai nước chúng ta đã có nhiều cố gắng để thỏa thuận một hiệp ước mậu dịch, đại loại giống như hiệp định thương mại chúng ta mới kí ngày nay. Nhưng 200 năm truớc, họ đều thất bại và không có hiệp ước nào đuợc kí kết. Hãy nghe một sử gia nói về những gì xảy ra 200 năm trước, và thử nghĩ xem điều đó đã có thể được nói bao nhiêu lần trong hai thế kỉ kể từ ngày đó. Ông ta nói "Những cố gắng này đã thất bại vì hai nền văn hoá xa xôi đã không đếm xỉa đến nhau, và sự quan trọng của bên này đối với bên kia không đủ để vượt qua những hàng rào đó."
Hãy để những ngày chúng ta không đếm xỉa đến nhau ra đi mãi mãi. Hãy cùng công nhận sự quan trọng của chúng ta đối với nhau. Hãy cùng tiếp tục giúp đỡ lẫn nhau hàn gắn những vết thưong chiến tranh, không phải bằng cách quên đi lòng dũng cảm các bên đã thể hiện hay tấn thảm kịch mà các bên đã phải chịu, mà bằng cách nâng niu tinh thần hoà giải và lòng quả cảm để xây dựng một ngày mai tốt đẹp hơn cho con em của chúng ta.
Mong sao con em chúng ta sẽ học được từ chúng ta, rằng những người tốt, qua đối thoại tôn trọng, có thể tìm ra và tìm lại tính nhân văn chung trong họ, và một quá khứ đau thương có thể được đền bù bằng một tương lai hoà bình và thịnh vuợng.
Cám ơn các bạn đã đón tiếp tôi và gia đình tôi cùng toàn thể phái đoàn Mỹ tới Việt Nam . Cám ơn các bạn về lòng tin của các bạn vào tuơng lai. [Nói tiếng Việt] "Chúc các bạn sức khoẻ và thành công"
Cám ơn các bạn vô cùng.
Bill Clinton
Người dịch : Vũ Bùi
Nguyễn Vũ Bình: Speaking Out
From the December 2002 issue of World Press Review (VOL. 49, No. 12)
Vietnamese Journalist and Reform Advocate Runs Afoul of Authorities
Nguyen Vu Binh: Speaking Out
Rachel S. Taylor
World Press Review associate editor
Photo courtesy of the Democracy Club for Vietnam
Vietnamese journalist and democracy advocate Nguyen Vu Binh has learned the hard way that his country’s communist leadership is not yet ready for real reform.
Around 8 p.m. on Sept. 25, Binh, 34, received some unwelcome visitors at the home he shares with his wife and two small daughters in the country’s capital, Hanoi. But Binh might have imagined the security officials who came to his door would stop by. As a democracy advocate in a country still tightly controlled by a communist leadership, he has been on the government’s watch list for some time.
Still, this visit was worse than usual. After searching his home, the police took Binh away. As of this writing, the journalist has not been seen since.
Binh’s crime remains a mystery, though many suspect it has something to do with an essay he recently wrote and distributed over the Internet. Titled “Some Thoughts on the China-Vietnam Border Agreement,” Binh’s piece criticized the Vietnamese government for conceding too much in a 1999 land deal it made with China.
In September 2000, Binh, who spent more than eight years as an economics reporter for Tap Chi Cong San, the Vietnamese Communist Party’s official journal, stepped down from his position and, in a direct challenge to the state’s one-party system, petitioned to form a new Freedom and Democracy Party. Before long, the authorities were closely monitoring him. They cut his home phone line and brought him to the police station repeatedly (at one point taking him in three times in five days). They reportedly “advised” his friends not to meet him and companies not to hire him.
But Binh was not deterred. Over the next two years, he helped found the Association to Fight Government Officials’ Corruption, published several essays on democracy, and signed a petition to Vietnam’s Parliament calling for reforms. In July, Binh submitted written testimony to the U.S. Congressional Human Rights Caucus, in which he discussed the human-rights situation in Vietnam. Soon after he e-mailed his testimony to Washington, police took him in for questioning and later put him under house arrest.
With the publication of his essay on the China-Vietnam border agreement, it appears that the authorities thought Binh had gone too far. Since it remains dangerous to speak out against the government, it has been left primarily to democracy advocates and human-rights groups in the United States to campaign for Binh’s release. In the meantime, Binh’s family, friends, and community of fellow democracy advocates have been left to wait and to hope he will be allowed to come home soon.
In Prison With One Click
In prison with one clickdi Paola Donatucci and Silvia Grabovac18/11/2002Sophie Beach from Committee to Protect Journalists and Nam Tran from the The Democracy Club For Vietnam: «the Internet will evolve the Government, not the other way around.»
On Nov 8th 2002 Le Chi Quang has been condemned to four years of prison for distributing via Internet the material that criticised the Vietnamese government. Same destiny could afflict Pham Hong Son, a physician arrested in March for a mere translation of the article “What’s Democracy”, posted on the Hanoi’s US Embassy Website. Their cases, as well as the ones of Tran Khue and Hguyen Vu Binh, overwhelmed the Web pages of the international associations that advocate the freedom of speech and the respect of human rights. One of these organizations is The Committee to Protect journalists (CPJ) from New York, which member, Sophie Beach, agreed to answer our questions about the censorship in Vietnam. Nam Tran, from The Democracy Club in Vietnam, a NGO founded last year to inform the public about the violation of human rights in Vietnam, also helped us in understanding the censorship in his country.When and for what reasons has the censorship on the Vietnamese Web started?Nam Tran: The Socialist Republic of Vietnam would not tolerate any form of freedom of expression. Despite the fact that Vietnamese Constitution guarantees the people's right to express themselves, anyone who dares to challenge the authorities will be punished. . All news organizations such as newspapers, radio stations, and television channels are controlled by the government, as well as the internet.Sophie Beach: The Vietnamese government has been censoring the Internet since the medium first came to Vietnam in 1997. However, over the past year or so, officials have tightened control over the Internet by strengthening regulations requiring Internet Service Providers and Internet cafe owners to monitor customers' online activities to prevent the distribution of "harmful" material.Vietnamese Government has blocked some international Web sites, as for the example Vietnamese BBC that has been banned for a week. Is there a black list of banned sites? Can you mention some of them and why have they been blocked?Sophie Beach: The Vietnamese government is very sensitive about citizens having access to foreign news, which presents a different picture of the country than that portrayed in Vietnam's official media.Nam Tran: It depends on the political situation and sensitivity of government security in Viet Nam. if there are some unpleasant events and the authorities want to shield these from the public, they will block well-known websites. Foreign sites, such as Vietnamese BBC, are typically visited. Most of the Vietnamese Overseas Web Sites were blocked and banned permanently, to name a few: Dien Dan Dan Chu (Democracy Forum), Ykien (Opinion), Thong Luan (Information and Discussion) and Le Phai Online (The Truth).... There is no list from the Government announcing banned sites.Which are the most common measures that Government assumes in blocking the access to the black list web sites?Sophie Beach: All Internet Access Providers (which control the physical connections between ISPs and the outside world) are controlled by the government, which can use firewalls to block access to banned sites.Nam Tran: Sites have posted information which the government has considered harmful to the state's security. Sites that have posted written articles and/or news from Vietnamese Dissidents, Vietnamese Overseas Organizations and other prominent individuals' writing to express their views and criticize the government political policies, are considered most dangerous. The government watches most of the foreign sites as well as Vietnamese Overseas sites. People will be black listed if they happen to visit that watched sites more than once. Sometimes, the police will call and warn visitors, while in other cases they will resort to arrest, depending on whether you are considered a danger to them. Lawyer Le Chi Quang was reportedly caught "red handed" when he sent his email to a friend in France. The Internet Provision Services (IPS) company in Viet Nam spies on and reports to the authorities their customers' net activities. Lawyer Le Chi Quang, Dr. Pham Hong Son, and former reporter Nguyen Vu Binh were all reported to police by the IPS leading to their recent arrest.How do Vietnamese perceive the Internet, what do they search for and what kind of information they can access? Does the Media speak freely of the Web?Nam Tran: In a country where the media is the Communist Party's propaganda tool, the Vietnamese people cannot speak freely. People inside Viet Nam are tired of reading and hearing the same old story. The internet has opened a new door for them to explore dreams beyond the bamboo 's curtain. They all are excited to learn of new technology, exchange thoughts freely, and get to know western democratic ideas; to exercise their freedom as individuals. While the government urges its citizens to explore the advances of technology, any curiosities about the western world, like Democracy, are strictly punished.Sophie Beach: Internet access is very limited in Vietnam, due to high costs and the low number of phone lines in the country (although the number of Internet users jumped this year to 1.8 million from 300,000, according to government figures). An increasing number of people are using the Internet to distribute news and opinion that is banned from the official media, largely through Vietnamese-language web sites that are based overseas.The Vietnamese Government however promotes the Internet evolution. How does this policy match the censorship?Nam Tran: As long as the totalitarian authorities hold on to their power, censorship will be imposed in many forms. The government supports the technology of the internet, but at the same time hypocritically and freely discourages and punishes the freedoms the internet provides, like truth. Eventually, I believe the internet will evolve the government, not the other way around.Sophie Beach: The government is trying to promote the Internet as a tool for economic development at the same time that they try to control online content. Ultimately, I think, it will be difficult for the government to maintain this double-edged strategy. As more citizens go online, it will become increasingly difficult for the government to control their activities. Yet if authorities maintain very strict control over Internet use, it will not succeed as an economic tool either.Versione italiana
Hiến Pháp Hoa Kỳ
HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲLời mở đầuChúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng tôi, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.Ðiều IKhoản 1NGÀNH LẬP PHÁPToàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được trao cho Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện.Ðiều IKhoản 2HẠ VIỆN(1) Hạ viện sẽ gồm có các thành viên cứ 2 năm một lần được dân chúng ở các bang bầu ra. Ðại cử tri ở mỗi bang phải có phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất. (2) Những người có thể được bầu làm hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên và phải là công dân của Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.(3) Hạ nghị sĩ và các loại thuế trực thu sẽ được phân bổ theo các bang [mà có thể tính gộp vào trong Liên bang tùy theo số lượng tương ứng được xác định bằng cách tính tổng số gồm những người tự do, kể cả những người làm việc theo thời hạn và 3/5 số những người còn lại, không tính những người da đỏ vốn không nộp thuế] . Công việc thống kê thực sự sẽ tiến hành trong vòng ba năm sau cuộc họp đầu tiên của Quốc hội Hoa Kỳ và 10 năm một lần tiến hành theo luật định. Mỗi hạ nghị sĩ sẽ đại diện cho không quá 30000 người. Nhưng mỗi bang sẽ có ít nhất một hạ nghị sĩ. Và trước khi việc thống kê và điều tra dân số được tiến hành, thì bang New Hampshire sẽ được quyền bầu ba đại biểu, bang Massachusetts được bầu tám đại biểu, bang đảo Rhodes và Providence Plantations được bầu một đại biểu, bang Connecticut được bầu năm đại biểu, bang New York được bầu sáu đại biểu, bang New Jersey bốn đại biểu, bang Pennsynvania tám đại biểu, bang Delaware một đại biểu, bang Maryland sáu đại biểu, bang Virginia mười đại biểu, bang Bắc Carolina năm đại biểu, bang Nam Carolina năm đại biểu và bang Georgia ba đại biểu.(4) Khi khuyết ghế dân biểu ở bất cứ một bang nào thì chính quyền ở đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào những chỗ trống đó. (5) Hạ viện sẽ bầu ra Chủ tịch và các quan chức khác của Viện và họ là những người duy nhất có quyền kết tội các quan chức.Ðiều I Khoản 3THƯỢNG VIỆN(1) Thượng viện Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang [do cơ quan lập pháp ở đó bầu ra] với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một phiếu biểu quyết. (2) Ngay sau khi Thượng viện được bầu ra và nhóm họp lần đầu, các thượng nghị sĩ sẽ được phân chia sao cho đồng đều thành ba cấp. Thượng nghị sĩ cấp 1 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ, thượng nghị sĩ cấp 2 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ tư, thượng nghị sĩ cấp 3 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ 6, sao cho sau mỗi hai năm có thể bầu lại một phần ba thượng nghĩ sĩ. [Và khi có chỗ trống do từ chức hoặc nguyên nhân nào khác trong thời gian ngừng họp của cơ quan lập pháp ở bất cứ bang nào, thì chính quyền ở đó có thể tạm thời bổ nhiệm cho đến kỳ họp tiếp đó của cơ quan lập pháp và khi đó sẽ bổ sung vào chỗ trống].(3) Những người được bầu làm thượng nghị sĩ phải ở độ tuổi 30 trở lên và có 9 năm là công dân Hoa Kỳ, đồng thời khi được bầu phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.(4) Phó Tổng thống Hoa Kỳ sẽ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu chống ngang nhau khi biểu quyết.(5) Thượng viện lựa chọn những quan chức khác và cả Chủ tịch Lâm thời khi Phó Tổng thống Hoa Kỳ vắng mặt hoặc khi Phó Tổng thống đảm nhận chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ.(6) Thượng viện là nơi duy nhất có quyền xét xử tất cả các vụ bị kết tội. Khi nhóm họp để xét xử, thượng nghị sĩ sẽ phải tuyên thệ hoặc thề. Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ chủ tọa phiên tòa. Không một ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sĩ có mặt. (7) Mức án áp dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chủng quốc, tuy vậy họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định. Ðiều I Khoản 4TỔ CHỨC CỦA QUỐC HỘI(1) Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành bầu cử thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ do cơ quan lập pháp của mỗi bang qui định. Nhưng vào bất cứ lúc nào Quốc hội cũng có thể dựa theo luật đặt ra hoặc thay đổi các qui định đó, [chỉ trừ qui định về địa điểm bầu thượng nghị sĩ . (2) Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần [và phiên họp này sẽ vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng 12], trừ trường hợp Quốc hội có thể qui định một ngày khác dựa theo luật.Ðiều I Khoản 5(1) Mỗi viện sẽ có thẩm quyền về cuộc bầu cử của mình, về kết quả của cuộc bầu cử đó và về việc đánh giá tiêu chuẩn của các nghị sĩ. Ða số trong mỗi Viện sẽ tổ chức một nhóm đại biểu theo qui định để triển khai công việc, còn thiểu số có quyền trì hoãn phiên họp và có thể được trao quyền buộc những thành viên vắng mặt phải tham gia công việc theo đúng thể thức và phải nhận một hình thức kỷ luật theo qui chế của mỗi Viện.(2) Mỗi Viện có thể quy định những qui chế của mình, thi hành kỷ luật những thành viên có hành vi sai phạm và khai trừ một thành viên với sự nhất trí của hai phần ba số thành viên.(3) Mỗi Viện ấn hành một tờ nội san về công việc của mình và thông báo theo định kỳ các công việc đó trên tờ nội san, trừ những việc mà Viện cho là cần phải giữ bí mật. Những phiếu thuận và phiếu chống của các thành viên thuộc hai Viện về mọi vấn đề sẽ được công bố trên nội san theo yêu cầu của một phần năm các thành viên có mặt. (4) Trong thời gian khóa họp của Quốc hội, nếu không được sự đồng ý của Viện kia, thì không một Viện nào có thể nghỉ họp quá ba ngày hoặc chuyển sang địa điểm khác với địa điểm mà hai Viện đã quyết định.Ðiều I Khoản 6(1) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ được nhận một khoản trợ cấp cho công việc của mình do luật định và được Ngân khố của Hợp chủng quốc thanh toán. Trong mọi trường hợp, trừ khi có tội phản quốc, trọng tội và tội vi phạm nền an ninh, họ được hưởng đặc quyền không bị bắt giam trong thời gian tham dự khóa họp của Viện, trong khi tới cuộc họp và trở về nhà từ cuộc họp. Ðối với những lời phát biểu và tranh luận của họ trong cả hai Viện này, họ có quyền không bị chất vấn ở những nơi khác. (2) Trong thời gian được bầu làm thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hoa Kỳ. Trong thời gian đó tiền lương của họ sẽ không bị giảm và không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội.Ðiều I Khoản 7(1) Tất cả dự luật về tích lũy tổng thu nhập sẽ do Hạ viện đề xuất, nhưng Thượng viện có quyền đề nghị hoặc chấp thuận những điều sửa đổi trong các dự luật này cũng như đối với những dự luật khác.(2) Mỗi dự luật đã được thông qua tại Hạ viện và Thượng viện trước khi trở thành luật đều phải đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ. Nếu tán thành, Tổng thống sẽ ký nhận, nếu không Tổng thống sẽ trả lại Viện đưa ra dự luật đó cùng với ý kiến không tán thành. Viện này sẽ thông báo rộng rãi ý kiến không tán thành trong nội san và tiến hành xem xét lại dự luật. Nếu sau khi xem xét lại và hai phần ba thành viên của Viện đó đồng ý thông qua dự luật, thì nó sẽ được gửi cho Viện kia, kèm theo ý kiến không tán thành. Và Viện đó cũng sẽ xem xét. Nếu được hai phần ba thành viên của Viện đó phê chuẩn, thì nó sẽ trở thành một đạo luật. Nhưng trong các trường hợp này, phiếu bầu của cả hai Viện đều phải ghi rõ tán thành hay không tán thành. Tên của những người tán thành và không tán thành dự luật sẽ được đưa vào nội san của mỗi Viện. Những dự luật mà Tổng thống không gửi trả lại trong vòng 10 ngày (không kể chủ nhật) sau khi đệ trình lên sẽ trở thành đạo luật, coi như Tổng thống đã ký phê chuẩn, trừ trường hợp Quốc hội đang không nhóm họp nên Tổng thống không thể gửi trả lại cho Quốc hội được và trong trường hợp đó thì dự luật sẽ không trở thành luật.(3) Những mệnh lệnh, nghị quyết hoặc biểu quyết cần sự nhất trí của Thượng viện và Hạ viện (trừ trường hợp Quốc hội nghỉ họp), sẽ được đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ, và trước khi có hiệu lực, chúng phải qua sự phê chuẩn của Tổng thống, hoặc nếu Tổng thống không chấp thuận, cần phải có sự chấp thuận lần thứ hai của hai viện với hai phần ba thành viên của mỗi viện, theo đúng các qui chế và giới hạn được qui định cho các trường hợp về dự luật.Ðiều I Khoản 8QUYỀN HẠN CỦA QUỐC HỘIQuốc hội sẽ có quyền:(1) Đặt ra và thu các khoản thuế, thuế quan, thuế môn bài để trả các khoản nợ và chi phí cho quốc phòng và phúc lợi công cộng của Hoa Kỳ. Nhưng các khoản thuế quan và thuế môn bài đều phải thống nhất trên toàn cõi Hoa Kỳ. Quốc hội có quyền:
(2) Vay tiền theo tín dụng cho Hoa Kỳ.(3) Qui định về thương mại với ngoại quốc, giữa các bang và với các bộ lạc da đỏ.(4) Xây dựng đạo luật thống nhất về việc nhập quốc tịch và luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn đề phá sản.(5) Ðúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn cân đo.(6) Trừng phạt những vụ làm giả trái phiếu và đồng tiền đang lưu hành ở Hoa Kỳ.(7) Xây dựng các trạm bưu điện và mạng lưới bưu điện.(8) Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các nghệ thuật hữu ích bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của các tác giả và nhà phát minh đối với các tác phẩm và phát minh trong thời gian hạn định.(9) Thiết lập các tòa án dưới quyền của Tòa án tối cao.(10) Xác định rõ và trừng phạt các tội cướp biển và trọng tội xẩy ra trên biển và những sự vi phạm luật pháp quốc tế.(11) Tuyên chiến, ban bố văn bản trao quyền cho các tầu tư nhân được phép tấn công các tầu nước ngoài và soạn thảo những luật liên quan tới sự chiếm dụng đất và nguồn nước. (12) Nuôi dưỡng và cung cấp cho quân đội, nhưng việc chi tiêu khoản tiền này chỉ trong thời hạn không quá hai năm.(13) Thiết lập và duy trì quân chủng hải quân.(14) Soạn thảo các luật lệ và các qui chế về lực lượng lục quân và hải quân.(15) Trù liệu việc xây dựng lực lượng dự bị nhằm thực thi luật pháp của Liên bang, trấn áp các cuộc phiến loạn và đẩy lùi xâm lăng.(16) Trù liệu sự tổ chức, vũ trang và duy trì kỷ luật các lực lượng dự bị của các bang, và trù liệu việc lãnh đạo các lực lượng này khi nào được huy động vào lực lượng liên bang Hoa Kỳ, trong khi vẫn giành cho các bang cụ thể quyền bổ nhiệm sỹ quan và quyền huấn luyện lực lượng dự bị của mỗi bang theo chuyên ngành mà quốc hội đã quy định.(17) Thực thi quyền lập pháp đặc biệt trong mọi trường hợp đối với những quận huyện (diện tích không quá 10 hải lý vuông) bằng cách Quốc hội tiếp nhận sự nhượng quyền của các bang đặc biệt, trở thành cơ quan lãnh đạo của Chính phủ Hoa Kỳ và thực thi quyền lãnh đạo đối với tất cả những địa điểm đã được mua lại theo sự đồng ý của cơ quan lập pháp của bang và cũng theo cách như vậy xây dựng các pháo đài, kho vũ khí, xưởng chế tạo vũ khí, kho cảng và các cơ sở cần thiết khác.(18) Soạn thảo mọi điều luật cần thiết và đúng đắn để thực thi những quyền lực nói trên, cũng như tất cả những quyền lực khác đã được Hiến pháp này trao cho Chính phủ Hoa Kỳ, hoặc cho bất cứ một cơ quan và quan chức nào khác. Ðiều I Khoản 9CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI QUỐC HỘI(1) Việc nhập cư hoặc nhập khẩu của những người hiện đang sống ở bất cứ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận, sẽ không bị Quốc hội cấm đoán trước năm 1808, nhưng sẽ đánh thuế không quá 10 đôla cho mỗi người nhập cư. (2) Quyền được tòa án thẩm định lý do bắt giam sẽ không bị tước đoạt, trừ trường hợp có phiến loạn và xâm lược và do yêu cầu nhằm đảm bảo nền an ninh chung.(3) Lệnh tước quyền công dân và tử hình không cần xét xử sẽ không được thông qua.(4) Sẽ không đặt ra loại thuế thân [hoặc các loại thuế trực thu khác], nếu không tương ứng với cuộc điều tra dân số kể trên trong điều này.(5) Sẽ không đặt ra loại thuế hoặc thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu từ bất cứ bang nào. (6) Trong những quy chế về thương mại và thu nhập sẽ không có sự ưu tiên nào đối với bến cảng của bất cứ bang nào so với những bang khác. Tầu thuyền từ một bang nào đó sẽ không bị bắt buộc phải cập bến, chịu sự kiểm tra và nộp thuế ở một bang khác. (7) Sẽ không được rút bất cứ khoản tiền nào từ Ngân khố, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Bản báo cáo tài chính thu chi thường kỳ của những khoản tiền công cộng phải được công bố thường xuyên.(8) Hoa Kỳ sẽ không ban tặng các tước hiệu quý tộc. Những người đảm nhận những chức vụ có lợi tức nếu không được sự đồng ý của Quốc hội sẽ không được phép nhận bất cứ quà tặng, lương bổng, hoặc bất cứ danh hiệu, tước vị nào do vua chúa hoặc chính phủ nước ngoài nào trao tặng.Ðiều I Khoản 10CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI CÁC BANG(1) Không một bang nào được phép tham gia vào bất cứ một hiệp ước, khối đồng minh hoặc liên hiệp nào; không được phép cấp giấy phép trưng dụng, bắt giữ tàu thuyền nước ngoài; không được đúc tiền hoặc phát hành trái phiếu; hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ; không được thông qua luật trừng phạt con người mà không qua xét xử và luật trừng phạt con người về một hành vi không vi phạm pháp luật hoặc một đạo luật nào phương hại đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; không được ban tặng các tước hiệu quý tộc.(2) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đặt ra thuế và thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ trường hợp hết sức cần thiết cho việc thực hiện các điều luật về thanh tra, và hệ thống thuế đánh vào hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu do một bang nào đó đặt ra sẽ phải đóng góp cho Ngân khố Hoa Kỳ, đồng thời tất cả các điều luật này đều phải đệ trình lên để Quốc hội xét duyệt và kiểm soát.(3) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đánh thuế tàu, duy trì các đội quân và tàu chiến trong thời kỳ hòa bình, ký kết hiệp định hoặc thỏa ước với một bang khác hoặc với lực lượng nước ngoài hoặc tham gia vào cuộc chiến tranh, trừ trường hợp thực sự bị xâm lược hoặc lâm vào tình trạng sắp xẩy ra nguy biến và không thể trì hoãn.Ðiều II Khoản 1NGÀNH HÀNH PHÁP(1) Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thống giữ chức vụ của mình trong nhiệm kỳ 4 năm và cùng với Phó Tổng thống cũng được bầu ra theo cùng một nhiệm kỳ và được bầu cử theo thể thức sau đây:(2) Theo thể thức mà cơ quan lập pháp ở đó qui định, mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang sẽ bầu ra trong Quốc hội. Nhưng không một thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ hoặc một quan chức nào đảm nhiệm chức vụ có lợi tức sẽ được chọn làm đại cử tri.(3) [Các đại cử tri sẽ họp ở bang của mình và bỏ phiếu bầu hai người và ít nhất một trong hai người không phải là cư dân trong cùng một bang vớingười kia. Họ sẽ lập bản danh sách về những người đi bầu và số phiếu bầu của mỗi người, ký và xác nhận vào danh sách, gắn xi niêm phong và chuyển lên cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ, đệ trình lên Chủ tịch Thượng viện. Với sự có mặt của Thượng viện và Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện sẽ mở tất cả cứ liệu đã được xác nhận và sẽ đếm số lượng phiếu bầu. Người có nhiều phiếu bầu nhất sẽ là Tổng thống, nếu như số phiếu bầu này chiếm đa số trong tổng số các đại cử tri được bầu ra, và nếu từ hai người trở lên có đa số phiếu bầu và có số phiếu bầu bằng nhau, thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu để bầu một trong những người đó làm Tổng thống. Nếu không người nào có đa số phiếu bầu, thì Hạ viện cũng theo thể thức như vậy, chọn 5 người có số phiếu bầu nhiều nhất trong danh sách để bầu ra Tổng thống. Nhưng trong việc bầu Tổng thống, công việc bầu cử tiến hành ở các bang, hạ nghị sĩ ở mỗi bang có một phiếu bầu. Số đại biểu tiến hành công việc này sẽ gồm một thành viên hoặc những thành viên thuộc hai phần ba số bang và điều cần thiết cho cuộc bầu cử phải gồm đại biểu của đa số các bang. Trong mọi trường hợp, sau khi bầu Tổng thống, người có số phiếu nhiều nhất do các đại cử tri bầu cho sẽ là Phó Tổng thống. Nhưng nếu từ hai người trở lên có số phiếu bầu bằng nhau, thì Thượng viện sẽ chọn trong số đó để bỏ phiếu bầu ra Phó Tổng thống]. (4) Quốc hội có thể quyết định thời gian bầu các đại cử tri và ngày mà các đại cử tri sẽ bỏ phiếu để bầu cử và đó sẽ là cùng một ngày trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.(5) Người có đủ tiêu chuẩn được bầu làm Tổng thống phải là công dân sinh ra tại bản địa hoặc là công dân Hoa Kỳ trong thời gian thực hiện Hiến pháp này, từ 35 tuổi trở lên và đã có 14 năm cư trú ở Hoa Kỳ.(6) Trong trường hợp Tổng thống bị cách chức hoặc qua đời, từ chức hoặc không đủ năng lực trong việc thực thi quyền lực và nhiệm vụ của mình, thì mọi quyền lực và nhiệm vụ sẽ chuyển giao cho Phó Tổng thống. Quốc hội sẽ căn cứ vào luật bổ khuyết một quan chức vào ghế trống trong các trường hợp truất quyền, tử vong, từ chức hoặc không đủ năng lực của cả Tổng thống và Phó Tổng thống; quan chức nào thay quyền Tổng thống hoặc Phó Tổng thống sẽ thi hành nhiệm vụ cho đến khi chấm dứt tình trạng không đủ năng lực và khi đã bầu được Tổng thống mới. (7) Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống sẽ được nhận một khoản tiền lương trả cho công việc của mình, khoản tiền này sẽ không tăng và cũng không giảm trong suốt nhiệm kỳ này và Tổng thống cũng không có quyền được nhận bất cứ một khoản tiền nào khác của Hoa Kỳ hoặc bất cứ một bang nào. (8) Trước khi bắt đầu điều hành văn phòng của mình, Tổng thống sẽ tuyên thệ hoặc thề như sau: "Tôi trân trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ".Ðiều II Khoản 2(1) Tổng thống sẽ là Tổng tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của lực lượng dự bị ở một số bang. Khi bắt đầu thực sự bắt tay vào công, Tổng thống có thể yêu cầu các quan chức phụ trách các cơ quan hành pháp đề xuất ý kiến bằng văn bản về bất cứ vấn đề nào liên quan tới nhiệm vụ của những cơ quan đó. Tổng thống có quyền hủy bỏ bản án hoặc ân xá đối với những hành vi chống lại Hoa Kỳ, trừ những trường hợp xét xử các vụ trọng tội. (2) Theo thỏa thuận và sự đồng ý của Thượng viện - với sự nhất trí của hai phần ba số thượng nghị sĩ có mặt, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước. Và cũng theo thỏa thuận, đồng ý của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ, các công sứ, lãnh sự, các quan tòa của Tòa án tối cao và những quan chức khác của Hoa Kỳ. Những việc bổ nhiệm này không làm trái với những qui định và sẽ được thực hiện theo luật định, nhưng Quốc hội có thể căn cứ vào các điều luật mà thực hiện quyền bổ nhiệm các quan chức cấp dưới trong các tòa án hoặc các vụ viện mà họ cho là phù hợp.(3) Tổng thống sẽ có quyền bổ sung vào những chỗ trống có thể xẩy ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của Thượng viện bằng cách cấp giấy ủy nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau của Thượng viện.Ðiều II Khoản 3Theo thường lệ, Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Trong trường hợp cần thiết, Tổng thống có quyền triệu tập hai Viện hoặc một trong hai Viện. Trong trường hợp bất đồng giữa hai Viện về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao giờ mà Tổng thống cho là thích hợp. Tổng thống sẽ tiếp kiến các đại sứ và các công sứ. Tổng thống đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn và sẽ giao phó nhiệm vụ cho tất cả các quan chức của Hoa Kỳ. Ðiều II Khoản 4Tổng thống, Phó Tổng thống và các quan chức dân sự của Hoa Kỳ sẽ bị cách chức khi bị buộc tội phản quốc, tội nhận hối lộ cùng những tội nghiêm trọng khác.
Ðiều III
Khoản 1
NGÀNH TƯ PHÁP
Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp. Các quan tòa của Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi chính đáng, và trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó.
Ðiều III
Khoản 2
(1) Quyền lực tư pháp căn cứ vào Hiến pháp này sẽ có hiệu lực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý, các điều luật của Hoa Kỳ, các hiệp ước đã hoặc sẽ ký dưới thẩm quyền của Chính phủ; đối với các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, đối với các trường hợp liên quan tới luật pháp hàng hải và hải quân; đối với các tranh chấp mà Hoa Kỳ là một bên, đối với các cuộc tranh chấp giữa hai bang trở lên, giữa một bang với các công dân của bang khác, giữa các công dân của các bang khác nhau, giữa các công dân trong một bang tranh chấp đất đai do các bang khác nhau cấp, giữa một bang hoặc các công dân của bang đó với các bang khác [hoặc các công dân và đối tượng của bang khác].
(2) Trong các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, và các trường hợp mà một bang thuộc về một bên, thì Tòa án tối cao phải mở phiên tòa sơ thẩm. Trong những trường hợp khác, căn cứ vào luật pháp, vụ việc và cả những ngoại lệ và tuân theo những quy chế do Quốc hội đề xuất, Tòa án tối cao sẽ mở phiên tòa phúc thẩm.
(3) Trừ những trường hợp bị buộc trọng tội, việc xét xử các tội sẽ phải thông qua Bồi thẩm đoàn và phiên tòa xét xử sẽ mở tại bang đã xẩy ra vụ việc phạm tội. Nhưng nếu vụ việc không xẩy ra trong bất cứ bang nào, thì phiên tòa sẽ họp ở một nơi mà Quốc hội căn cứ vào luật để quyết định.
Ðiều III
Khoản 3
(1) Tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ bao gồm hành vi gây chiến tranh tấn công nước này hoặc ủng hộ kẻ thù, trợ giúp và úy lạo chúng. Không một ai bị phán quyết về tội phản quốc, trừ phi có hai người làm chứng về hành vi phạm tội hoặc có sự thú tội công khai trước tòa.
(2) Quốc hội có quyền xác định hình phạt cho tội phản quốc. Nhưng không một sự trừng phạt nào hay việc tịch thu tài sản lại thực hiện đối với những người thân của kẻ phạm tội, mà chỉ thực hiện đối với bản thân họ mà thôi.
Ðiều IV
Khoản 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BANG
Mỗi bang đều phải tin tưởng tuyệt đối vào các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng của các bang khác. Quốc hội bằng những luật có tính chất chung quy định cách thức chứng thực các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng đó, cũng như hiệu lực của chúng.
Ðiều IV
Khoản 2
(1) Công dân của mỗi bang sẽ được hưởng mọi đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm như công dân của các bang khác.
(2) Cá nhân bị truy tố về tội phản quốc, trọng tội hoặc một tội nào khác mà trốn tránh pháp luật và bị tìm thấy ở một bang khác, thì theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của bang mà người đó chạy trốn, sẽ bị trao trả lại và dẫn độ về bang có thẩm quyền xét xử.
(3) [Không một cá nhân nào vốn bị giam cầm, quản thúc, khổ sai ở một bang bỏ trốn sang một bang khác lại có thể dựa vào luật lệ và qui chế ở địa phương mới để trốn tránh những hình phạt nói trên, ngược lại cá nhân đó phải được trao trả lại theo yêu cầu của bên mà cá nhân đó buộc phải làm việc và lao động].
Ðiều IV
Khoản 3
MỐI QUAN HỆ GIỮA BANG VÀ LIÊN BANG
(1) Những bang mới có thể được Quốc hội chấp nhận gia nhập vào Liên bang này; nhưng không một bang mới nào sẽ được thành lập hoặc dựng nên dưới thẩm quyền của bất cứ bang nào khác; cũng không một bang nào sẽ được hình thành bằng cách sát nhập hai bang trở lên hoặc các vùng của các bang khác nếu không được sự đồng ý của cơ quan lập pháp ở các bang có liên quan cũng như của Quốc hội.
(2) Quốc hội có quyền hoạch định và xây dựng các luật lệ và qui chế cần thiết liên quan tới lãnh thổ hoặc sở hữu khác thuộc về Hoa Kỳ; và không một điều nào trong Hiến pháp này sẽ được giải thích làm tổn hại đến bất cứ tuyên bố nào của Hoa Kỳ hay của bất cứ một bang cụ thể nào khác.
Ðiều IV
Khoản 4
Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho mỗi bang trong Liên bang này một thể chế chính quyền cộng hoà; và sẽ bảo vệ mỗi bang chống lại sự xâm lược; và theo yêu cầu của cơ quan lập pháp hoặc hành pháp (khi cơ quan lập pháp không thể nhóm họp) để chống lại tình trạng bạo lực trong nước.
Ðiều V
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Khi hai phần ba thành viên của cả hai Viện đều xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp ở hai phần ba các bang, Quốc hội sẽ đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp này và sẽ triệu tập Ðại hội để đề xuất những điều sửa đổi; cả trong hai trường hợp chúng đều có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang, hoặc bởi Ðại hội của ba phần tư các bang, theo một thể thức phê chuẩn do Quốc hội đề nghị với điều kiện là không một điều sửa đổi nào có thể được đề xuất trước năm 1808 theo một cách thức ảnh hưởng đến đoạn 1 và đoạn 4 trong khoản 9 của Ðiều 1; và không một bang nào, nếu bản thân không đồng ý, lại có thể bị tước đoạt quyền bỏ phiếu bình đẳng trong Thượng viện.
Ðiều VI
CÁC KHOẢN NỢ QUỐC GIA
(1) Mọi khoản nợ đã ký kết và những cam kết có trước khi thông qua Hiến pháp này vẫn có hiệu lực đối với Liên bang được thành lập trong khuôn khổ Hiến pháp này cũng như đối với Liên minh cũ.
QUYỀN TỐI CAO CỦA CHÍNH PHỦ QUỐC GIA
(2) Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang đều không có giá trị.
(3) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, các thành viên của cơ quan lập pháp các bang, các quan chức trong cơ quan hành pháp của Liên bang lẫn tiểu bang đều phải tuyên thệ hoặc xác nhận sự ủng hộ Hiến pháp này. Nhưng không một điều kiện tôn giáo nào bị coi là bắt buộc như tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các chức vụ, công sở của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Ðiều VII
PHÊ CHUẨN HIẾN PHÁP
Việc các đại hội của 9 bang phê chuẩn là đủ điều kiện để thiết lập hiến pháp giữa các bang (vốn cũng tham gia phê chuẩn Hiến pháp này).Hiến pháp được đại biểu các bang có mặt nhất trí thông qua trong đại hội vào ngày 17 tháng 9 năm 1787 Thiên chúa Giáng sinh, vào năm độc lập thứ 12 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Ðể chứng thực, chúng tôi có mặt tại đây đồng ý và ký tên.
Go. Washington - Tổng thống, Ðại biểu Bang Virginia Bang Delaware, Geo: ReadGunning Bedford junJohn Dickinson Richard Bassett Jaco: Broom Bang Maryland,James McHenryDan of St Thos. Jenifer Danl Carroll Bang Virginia, John Blair--James Madison Jr.Bang Bắc Carolina, Wm. BlountRichd. Dobbs SpaightHu Williamson Bang Nam Carolina, J. RutledgeCharles Cotesworth PinckneyCharles PinckneyPierce ButlerBang Georgia, William FewAbr Baldwin Bang New Hampshire, John LangdonNicholas Gilman Bang Massachusetts, Nathaniel GorhamRufus King Bang Connecticut, Wm. Saml. JohnsonRoger Sherman Bang New York, Alexander Hamilton Bang New Jersey, Wil: LivingstonDavid Brearley.Wm. Paterson. Jona: Dayton Bang Pennsylvania, B FranklinThomas MifflinRobt MorrisGeo. ClymerThos. FitzSimonsJared Ingersoll James WilsonGouv Morris
Thư ký William Jackson chứng thực
CÁC ĐIỀU BỔ SUNG SỬA ĐỔI CỦA HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Các điều bổ sung và sửa đổi của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được Quốc hội đề xuất và được các bang phê chuẩn theo Điều 5 của Hiến pháp ban đầu.
Mười điều bổ sung sửa đổi đầu tiên, còn được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền, được đề xuất ngày 25/9/1789 và được phê chuẩn ngày 15/12/1791.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 1
TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ ; QUYỀN HỘI HỌP VÀ KIẾN NGHỊ
Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 2
QUYỀN MANG VŨ KHÍ
Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị vi phạm.
Tuyên ngôn Nhân quyềnĐiều bổ sung sửa đổi thứ 3
NƠI Ở CỦA BINH LÍNH
Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo qui định của luật pháp.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 4
LỆNH TRUY NÃ VÀ BẮT GIỮ
Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 5
QUYỀN TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, trừ những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không một ai sẽ bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 6
QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
Trong mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng của bang hoặc khu vực nơi tội trạng xảy ra, nơi đã được pháp luật chỉ định trước; bị cáo phải được thông báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 7
QUYỀN TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng và không một vụ việc nào đãđược Bồi thẩm đoàn xét xử lại phải xem xét lại lần nữa ở bất cứ tòa án nào của Hoa Kỳ, mà phải căn cứ theo các quy tắc của thông luật.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 8
TIỀN BẢO LÃNH, TIỀN PHẠT VÀ HÌNH PHẠT
Không đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 9
QUYỀN CỦA NHÂN DÂN
Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.
Tuyên ngôn Nhân quyền
Điều bổ sung sửa đổi thứ 10
QUYỀN CỦA CÁC BANG VÀ CỦA NHÂN DÂN
Những quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị ngăn cấm đối với các bang, thì thuộc về các bang cụ thể hoặc nhân dân.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 11
CÁC VỤ KIỆN CHỐNG LẠI CÁC BANG
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 4/3/1794 và được thông qua vào ngày 7/2/1795.Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ không được giải thích với mục đích mở rộng ra các vụ tố tụng về luật pháp hay công lý mà công dân của một bang khác hoặc công dân và đối tượng của một nước khác dựa vào đó để khởi kiện hoặc truy tố một bang của Hoa Kỳ.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 12
BẦU TỔNG THỐNG VÀ PHÓ TỔNG THỐNG
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 9/12/1803 và được thông qua vào ngày 27/7/1804.Các đại cử tri sẽ họp lại trong từng bang của họ và bằng lá phiếu bầu Tổng thống và Phó Tổng thống. ít nhất một trong hai người này sẽ không phải là cư dân cùng một bang với họ. Họ sẽ ghi vào lá phiếu tên người được bầu là Tổng thống và trên lá phiếu khác tên người được bầu làm Phó Tổng thống. Và họ sẽ lập ra các bản danh sách khác nhau những người bầu cho Tổng thống, những người bầu cho phó Tổng thống và cả số phiếu bầu cho mỗi người. Họ sẽ ký xác nhận vào những danh sách này, niêm phong và chuyển lên Chính phủ Hoa Kỳ, trình lên Chủ tịch Thượng viện. Chủ tịch Thượng viện trước sự hiện diện của Thượng viện và Hạ viện, sẽ mở tất cả các hồ sơ đã được chứng nhận và các phiếu bầu sẽ được đem ra đếm. Người có số phiếu nhiều nhất trong cuộc bầu cử cho Tổng thống sẽ đắc cử Tổng thống nếu con số này là đa số trong tổng số đại cử tri được chỉ định; nếu không ai đạt số phiếu như vậy thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu bầu Tổng thống trong những người có số phiếu bầu cao nhất, nhưng không quá 3 người. Nhưng trong việc bầu Tổng thống này, việc bỏ phiếu sẽ được tính theo các bang, đại diện của mỗi bang có một phiếu bầu. Số đại biểu qui định để tiến hành việc này gồm một hoặc các thành viên của hai phần ba các bang và phải có đa số các bang. (Nếu Hạ viện đã được trao quyền bầu cử mà không bầu ra Tổng thống [trước ngày 4 tháng 3 tiếp theo], thì Phó Tổng thống sẽ là quyền Tổng thống, cũng giống như trường hợp Tổng thống qua đời hoặc không đủ năng lực như Hiến pháp quy định). Người có số phiếu bầu nhiều nhất cho Phó Tổng thống sẽ đắc cử Phó Tổng thống nếu số phiếu này là đa số phiếu của tổng số đại cử tri được chỉ định; nếu không có ai được đa số phiếu, thì Thượng viện sẽ căn cứ vào hai người có số phiếu cao nhất trong danh sách để bầu ra phó Tổng thống. Số đại biểu cần thiết cho mục đích này gồm hai phần ba trong tổng số thượng nghị sĩ và đa số trong tổng số là tiêu chuẩn cần thiết để chọn lựa. Người nào không đủ tiêu chuẩn hợp hiến để đảm nhận chức vụ Tổng thống thì cũng không đủ tiêu chuẩn để được chọn làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 13
BÃI BỎ CHẾ ĐỘ NÔ LỆ
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 31/1/1865 và được thông qua vào ngày 6/12/1865.
Khoản 1
Không một chế độ nô lệ hoặc lao dịch cưỡng bức nào có thể tồn tại ở Hoa Kỳ hoặc ở một nơi nào thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ, trừ trường hợp trừng phạt thích đáng đối với tội phạm hình sự mà đương sự phạm phải.
Khoản 2
Quốc hội sẽ có quyền thực thi điều này bằng quyền lập pháp tương ứng.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 14
QUYỀN CÔNG DÂN
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 13/6/1866 và được thông qua vào ngày 9/7/1868.
Khoản 1
Tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc được nhập quốc tịch ở Hoa Kỳ và thuộc thẩm quyền tài phán ở đó, đều là công dân của Hoa Kỳ và của bang mà họ sinh sống. Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ. Cũng không một bang nào có thể tước đoạt sinh mệnh, tự do hoặc tài sản của một cá nhân mà không theo một quy trình do luật định. Cũng không thể phủ nhận quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng của một cá nhân trong phạm vi thẩm quyền tài phán của bang đó.
Khoản 2
Số Hạ nghị sĩ được phân chia theo tổng số nhân khẩu của các tiểu bang, [ngoại trừ những người da đỏ không phải nộp thuế]. Nhưng trong bất cứ một cuộc bầu cử đại cử tri (để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ), bầu cử các Hạ nghị sĩ trong Quốc hội, các quan chức hành pháp và tư pháp của bang hoặc các thành viên của cơ quan lập pháp nơi đó, nếu quyền bầu cử của nam công dân tuổi 21 và là công dân Hoa Kỳ bị phủ nhận hoặc hoặc bị tước bỏ vì lý do nào đó (không kể trường hợp những người tham gia phiến loạn hoặc phạm các tội khác), thì số đại cử tri ở đó sẽ bị giảm bớt theo tỷ lệ giữa tổng số nam công dân và số nam công dân ở độ tuổi 21 tại bang đó.
Khoản 3
Những ai với tư cách là thành viên của Quốc hội, hoặc một quan chức của Hoa Kỳ, hoặc một thành viên của một cơ quan lập pháp của bang, hoặc quan chức hành chính hay tư pháp của bất cứ một bang nào đã tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp của Hoa Kỳ nhưng lại tham gia các cuộc nổi dậy hay phiến loạn chống lại Hiến pháp hoặc trợ giúp hay úy lạo kẻ thù, thì không thể là thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ trong Quốc hội, hoặc đại cử tri để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, hoặc phụ trách một cơ quan dân sự hay quân sự nào của Hoa Kỳ hay của một bang nào đó. Nhưng Quốc hội có thể với 2/3 số phiếu của hai phần ba thành viên mỗi Viện để bác bỏ sự nghiêm cấm nói trên.
Khoản 4
Giá trị của những khoản nợ công cộng của Hoa Kỳ, được luật pháp đảm bảo, kể cả những khoản nợ để trả cho các khoản phụ cấp và tiền thưởng cho công việc phục vụ trấn áp các cuộc nổi dậy và phiến loạn, không bị chất vấn. Tuy nhiên Hoa Kỳ và bất cứ bang nào đều không thừa nhận hoặc thanh toán các khoản nợ hay trái vụ liên quan tới sự hỗ trợ các cuộc nổi dậy và phiến loạn chống lại Hoa Kỳ, hoặc đối với những yêu cầu bồi thường cho tình trạng mất mát nô lệ hoặc giải phóng nô lệ. Những khoản tiền, nghĩa vụ và yêu cầu loại này phải bị coi là phi pháp và không có giá trị.
Khoản 5
Bằng luật lệ thích hợp, Quốc hội có quyền triển khai xem xét điều khoản này.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 15
QUYỀN BỎ PHIẾU CỦA NGƯỜI MỸ GỐC PHI
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 26/2/1869 và được thông qua vào ngày 3/2/1870.
Khoản 1
Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây.
Khoản 2
Quốc hội sẽ có quyền triển khai điều khoản này bằng luật lệ thích hợp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 16
THUẾ THU NHẬP
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 12/7/1909 và được thông quavào ngày 3/2/1913.Quốc hội sẽ có quyền ban hành và thu các khoản thuế thu nhập có từ bất cứ nguồn nào mà không phân bổ tỷ lệ giữa các bang và không dựa vào bất cứ sự thống kê và điều tra dân số nào.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 17
BẦU CỬ TRỰC TIẾP THƯỢNG NGHỊ SỸ
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 13/5/1912 và được thông quavào ngày 8/4/1913.
(1) Thượng viện của Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang do dân chúng ở đó bầu ra với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một lá phiếu biểu quyết. Ðại cử tri ở mỗi bang phải có đủ phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.
(2) Khi có chỗ trống trong số đại diện của tiểu bang trong Thượng viện, cơ quan hành pháp của bang đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào chỗ trống, với điều kiện là cơ quan lập pháp của bang đó trao quyền tạm thời cho cơ quan hành pháp cho đến khi nhân dân bầu chọn được người bổ sung vào những chỗ trống theo luật lệ sẵn có.
(3) Ðiều khoản này sẽ không được giải thích làm ảnh hưởng đến việc bầu cử hoặc nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ được bầu ra, cho đến khi nó có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 18
LUẬT CẤM RƯỢU
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 18/12/1917 và được thông quavào ngày 16/1/1919.
Khoản 1
[Một năm sau khi phê chuẩn điều khoản này của Hiến pháp, việc sản xuất, mua bán hoặc chuyên chở các loại rượu có cồn ở trong nước, nhập khẩu từ nước ngoài, xuất khẩu từ Hoa Kỳ và các lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ đều bị cấm.
Khoản 2
Quốc hội và các bang có quyền lực như nhau khi triển khai điều khoản này của Hiến pháp.
Khoản 3
Ðiều khoản này sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của các bang như một điều bổ sung của Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển đến các bang như Hiến pháp quy định].
Điều bổ sung sửa đổi thứ 19
QUYỀN BẦU CỬ CỦA PHỤ NỮ
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 4/6/1919 và được thông quavào ngày 18/8/1920.
Khoản 1
Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính.
Khoản 2
Quốc hội có quyền thực hiện điều khoản này bằng luật lệ thích hợp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 20
CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ TỔNG THỐNG VÀ QUỐC HỘI
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 2/3/1932 và được thông quavào ngày 23/1/1933.
Khoản 1
Nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống sẽ kết thúc vào đúng trưa ngày 20 tháng giêng, và nhiệm kỳ của các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ kết thúc vào đúng trưa của ngày 3 tháng giêng của năm mà những nhiệm kỳ trên sẽ kết thúc, nếu điều khoản này vẫn chưa được phê chuẩn và nhiệm kỳ của những người kế nhiệm họ sẽ bắt đầu từ thời điểm đó.
Khoản 2
Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và kỳ họp sẽ bắt đầu vào giữa trưa ngày 3 tháng giêng, trừ trường hợp họ có thể căn cứ vào luật để xác định một ngày khác.
Khoản 3
Nếu vào thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống đắc cử qua đời, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ trở thành Tổng thống. Nếu trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống chưa đắc cử hoặc Tổng thống đã đắc cử nhưng không đủ tư cách, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ đảm đương cương vị Tổng thống cho đến khi Tổng thống được xác định là có đủ tư cách. Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quyết định về trường hợp khi cả Tổng thống đắc cử và Phó Tổng thống đắc cử đều không đủ điều kiện, tuyên bố ai sẽ đứng ra đảm đương quyền Tổng thống hoặc xác định cách thức để chọn người đảm đương chức vụ Tổng thống cho đến khi Tổng thống hay Phó Tổng thống có đủ tư cách.
Khoản 4
Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quy định trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Hạ viện có thể chọn làm Tổng thống khi Hạ viện đưưược trao quyền lựa chọn đó; và trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Thượng viện có thể chọn làm Phó Tổng thống khi Thưưượng viện đưưược trao quyền lựa chọn đó.
Khoản 5
Khoản 1 và khoản 2 sẽ có hiệu lực bắt đầu vào ngày 15 tháng 10 sau khi điều khoản này được phê chuẩn. Khoản 6
Ðiều này của Hiến pháp sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn như những điều bổ sung của Hiến pháp bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư các tiểu bang trong 7 năm kể từ ngày được đệ trình.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 21
HỦY BỎ CÁC LỆNH CẤM
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 20/2/1933 và được thông quavào ngày 5/12/1933.
Khoản 1
Kể từ nay, điều bổ sung sửa đổi số 18 của Hiến pháp bị bãi bỏ.
Khoản 2
Việc chuyên chở hay nhập khẩu nhằm cung cấp và sử dụng rượu có cồn ở bất cứ bang nào hoặc lãnh thổ và vùng thuộc sở hữu của Hoa Kỳ mà vi phạm luật ở những nơi đó sẽ bị nghiêm cấm.
Khoản 3
Ðiều này sẽ không có hiệu lực trừ phi nó được các đại hội của các bang phê chuẩn như một điều bổ sung của Hiến pháp, theo qui định của Hiến pháp, trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển đến các bang.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 22
GIỚI HẠN NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG TRONG HAI NHIỆM KỲ
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 24/3/1947 và được thông quavào ngày 27/2/1951.
Khoản 1
Không người nào được bầu giữ chức vụ Tổng thống quá hai nhiệm kỳ và không người nào đã đảm đương chức vụ Tổng thống hoặc là quyền Tổng thống quá hai năm trong nhiệm kỳ mà người khác đã đắc cử Tổng thống sẽ được bầu vào chức vụ Tổng thống hơn một nhiệm kỳ. Nhưng điều khoản này không áp dụng đối với những người đang giữ chức Tổng thống khi điều khoản này được Quốc hội đề nghị và sẽ không ngăn cản bất cứ ai có thể giữ chức Tổng thống hoặc quyền Tổng thống trong thời gian điều khoản này có hiệu lực đúng vào nhiệm kỳ của họ, vì vậy họ sẽ tiếp tục cương vị Tổng thống hay quyền Tổng thống trong thời gian nhiệm kỳ còn lại.
Khoản 2
Ðiều này sẽ không có hiệu lực trừ phi nó sẽ được cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang phê chuẩn như một điều bổ sung vào Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển tới các bang.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 23
QUYỀN BẦU CỬ TRONG QUẬN COLUMBIA
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 16/6/1960 và được thông quavào ngày 29/3/1961.
Khoản 1
Các địa hạt cấu thành nên các khu vực bầu cử chính quyền của Hoa Kỳ sẽ được tổ chức theo thể thức mà Quốc hội quy định như sau:Số đại cử tri bầu Tổng thống và Phó Tổng thống mà các địa hạt có được bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ trong Quốc hội, nếu đó là một bang, nhưng nếu số đại cử tri không nhiều hơn so với bang ít dân số nhất, thì họ sẽ được ghép vào số đại cử tri do các bang bổ nhiệm, nhưng xuất phát từ mục đích của cuộc bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, thì họ sẽ được coi là các đại cử tri do một bang bổ nhiệm, và họ sẽ họp với nhau ở khu vực bầu cử và hoàn thành trách nhiệm do điều 12 của Hiến pháp qui định.
Khoản 2
Quốc hội có quyền đem lại hiệu lực cho điều khoản này bằng luật lệ phù hợp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 24
THUẾ BẦU CỬ
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 27/8/1962 và được thông quavào ngày 23/1/1964.
Khoản 1
Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ trong các vòng bầu cử sơ bộ, hoặc trong các cuộc bầu cử Tổng thống hay Phó Tổng thống, cuộc bầu đại cử tri để bầu Tổng thống, Phó Tổng thống, thượng nghị sĩ hay hạ nghị sĩ trong Quốc hội, sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Hoa Kỳ hay một bang nào với lý do không có khả năng nộp thuế thân hoặc thuế khác.
Khoản 2
Quốc hội có quyền thực thi điều này bằng luật lệ phù hợp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 25
TỔNG THỐNG BỊ TÀN PHẾ VÀ VIỆC KẾ NHIỆM
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 6/7/1965 và được thông quavào ngày 10/2/1967.
Khoản 1
Trong trường hợp Tổng thống bị phế truất, qua đời hoặc từ chức, Phó Tổng thống sẽ trở thành Tổng thống.
Khoản 2T
rong trường hợp vị trí Phó Tổng thống bị bỏ trống, Tổng thống sẽ chỉ định một người làm Phó Tổng thống, nhưng phải được đa số phiếu bầu của cả hai viện trong Quốc hội.
Khoản 3
Trong trường hợp Tổng thống chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình và cho đến khi Tổng thống chuyển đến họ một văn bản với nội dung ngược lại thì những quyền lực và trách nhiệm đó sẽ do Phó Tổng thống thực thi với tư cách quyền Tổng thống.
Khoản 4
Trong mọi trường hợp khi Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ yếu của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương nào khác mà Quốc hội đã quy định bằng luật, chuyển lên Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản của họ tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi những quyền lực và trách nhiệm của mình, thì Phó Tổng thống sẽ ngay lập tức nắm quyền lực và trách nhiệm đó với tư cách quyền Tổng thống.Sau đó, khi Tổng thống chuyển lên quyền Chủ tịch của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về năng lực của mình, Tổng thống có thể tiếp tục thực thi quyền lực và nhiệm vụ với điều kiện trong vòng 4 ngày Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ yếu của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương mà Quốc hội đã qui định chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về việc Tổng thống có đủ năng lực thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình. Nếu không phải trong kỳ họp, trong vòng 48 tiếng đồng hồ Quốc hội sẽ phải họp để giải quyết vấn đề đó. Nếu Quốc hội trong vòng 21 ngày sau khi nhận được văn bản tuyên bố nói trên hoặc nếu vào thời điểm đó không phải là kỳ họp thì trong vòng 21 ngày, Quốc hội phải họp để với hai phần ba số phiếu của cả hai Viện quyết định về việc Tổng thống không thể thực thi các quyền và trách nhiệm của mình, và Phó Tổng thống sẽ tiếp tục thực thi công việc đó với tư cách là quyền Tổng thống, trong trường hợp ngược lại, Tổng thống sẽ tiếp tục thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 26
QUYỀN BẦU CỬ CHO NHỮNG NGƯỜI ĐỦ 18 TUỔI
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 23/3/1971 và được thông quavào ngày 1/7/1971.
Khoản 1
Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên sẽ không bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi Liên bang hay bất cứ bang nào với lý do tuổi tác.
Khoản 2
Quốc hội có quyền thực hiện điều này bằng luật lệ thích hợp.
Điều bổ sung sửa đổi thứ 27
LƯƠNG CỦA THÀNH VIÊN QUỐC HỘI
Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 25/9/1789 và được thông quavào ngày 7/5/1992.Trước cuộc bầu cử hạ nghị sĩ, không một điều luật nào nhằm thay đổi các khoản trợ cấp cho công việc của thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ có hiệu lực.